Sidebar

  • TRANG CHÍNH
  • LƯỢC SỬ TÓM TẮT
  • CHUYÊN ĐỀ
  • CỔ SỬ
  • THƯ VIỆN
  • ẢNH LỊCH SỬ
Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history
  • TRANG CHÍNH
  • LƯỢC SỬ TÓM TẮT
  • CHUYÊN ĐỀ
    • Nhân vật
    • Sự kiện
    • Hiện vật
    • Di tích
    • Hồi ký
  • CỔ SỬ
    • Đại Việt sử ký toàn thư
    • Huyền sử, dã sử
  • THƯ VIỆN
  • ẢNH LỊCH SỬ
    • Việt Nam triều Nguyễn

Quần đảo Hoàng Sa

Quần đảo Hoàng Sa

Tờ châu bản thời Bảo Đại khẳng định chủ quyền VN với Hoàng Sa

Details
Quần đảo Hoàng Sa
21 May 2009
Hits: 8674

Tháng 5/2009, nhà nghiên cứu Phan Thuận An đã gửi tới Tuổi Trẻ Cuối Tuần thêm một cứ liệu mới chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Đó là một tờ châu bản, được ông tìm thấy tại phủ thờ công chúa Ngọc Sơn (con vua Đồng Khánh, em vua Khải Định và là cô ruột vua Bảo Đại). Chúng tôi giới thiệu bài viết của ông về tờ châu bản này.

Read more …

Máu thịt Hoàng Sa

Details
Quần đảo Hoàng Sa
03 February 2008
Hits: 7068

Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải dẫn từ cuốn Hải ngoại kỷ sự được viết theo kiểu nhật ký của nhà sư Thích Đại Sán ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Trong Hải ngoại kỷ sự có chi tiết: Khi thuyền của ông đi qua quần đảo Hoàng Sa thì phải nộp thuế cho chúa Nguyễn. Điều đó thể hiện một sự thật hiển nhiên rằng, Hoàng Sa đã thuộc chủ quyền của Việt Nam từ lâu.

"Việt Nam địa dư đồ" là một tấm bản đồ cổ do tác giả Trung Quốc Xa Khâu Từ Diên Húc - một vị quan đời Thanh biên soạn. Trong tấm bản đồ này, lần đầu tiên Trung Quốc dùng hai chữ Việt Nam để gọi tên nước ta.

Không hiểu lịch sử biến thiên thế nào mà tấm bản đồ quý ấy lại lưu lạc sang tận châu Âu, trở thành tài sản của thư viện Vương quốc Anh.

Tấm bản đồ này được vẽ theo lối hiện đại, có ghi các tỉnh của nước ta thời Nguyễn như Cao Bằng, Tuyên Quang, Sơn Tây, Quảng Yên, Nam Định, Thanh Hóa, Phú Xuân... Đặc biệt, bản đồ vùng biển có những hàng chữ rất quan trọng "Tiểu Trường Sa hải khẩu", "Đại Trường Sa hải khẩu"...

Việc người Trung Quốc ghi những dòng  "Tiểu Trường Sa hải khẩu" và "Đại Trường Sa hải khẩu"  trong "Việt Nam địa dư đồ" thể hiện một điều chắc chắn rằng triều đình Mãn Thanh - Trung Quốc đã thừa nhận ở Việt Nam có hai hải khẩu đi ra hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

*

Trong nhiều trang ghi chép còn lưu lại, cho thấy tất cả tàu các nước Trung Quốc, Hà Lan, Anh quốc, Nhật Bản... bị nạn ở Hoàng Sa đều được bộ máy nhà nước triều Nguyễn, đại diện là chức quan trông coi, chiểu theo quy định mà giúp đỡ, cấp cho tiền gạo và giúp trở về nước an toàn.

Đô đốc Pháp D'Estaing, người được nhà khảo cổ học Louis Mallere gọi là một trong những kẻ tiên khu vĩ đại nhất trong sự nghiệp bành trướng của thực dân Pháp ở châu Á, đã nhận xét khi thường xuyên chạm trán với tàu thuyền nước ta khi Pháp có ý định nhòm ngó Thuận Hóa: Khó khăn càng tăng khi chúng ta muốn vượt qua đảo Hoàng Sa... Khu vực ấy (Hoàng Sa) luôn luôn có tàu của họ (nhà Nguyễn) đi lại rất nhiều.

Rất nhiều ghi chép về địa lý xưa đều cho thấy, hai quần đảo được thể hiện liền một dải, bao gồm cả Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa và ban đầu được người Việt gọi chung một tên nôm là Bãi cát Vàng... Thông qua việc tổ chức khai thác tài nguyên trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa liên tục hàng thế kỷ, trên thực tế cũng như về pháp lý, nhà Nguyễn đã làm chủ hai quần đảo từ khi hai quần đảo này còn chưa thuộc về lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào và biến hai quần đảo từ vô chủ thành bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.

*

Ông Võ Như Dân, hiện sống ở tổ 10, khối phố Vĩnh Ninh, phường Bình Hiên, quận Hải Châu, Đà Nẵng, có lẽ là một trong những người sống lâu nhất trên đảo Hoàng Sa. Suốt từ năm 1957 đến năm 1973, ông có cả thảy 18 lần ra đảo, mỗi lần 3 tháng. Tổng cộng thời gian ông đã sống trên đảo là 4 năm 6 tháng. Công việc của ông là lo hậu cần cho 7 người ở Ty Khí tượng (cũ). Ông kể lại rằng, những ngày sống ở nơi được coi là "ổ bão của thế giới", thời tiết vô cùng khắc nghiệt, ông và mọi người đã tận dụng nước ngọt trồng bí, bắt cá để cải thiện bữa ăn... Trên đảo có xây nhiều bể lớn hứng nước mưa dự trữ từ năm này sang năm khác. Nhiều tàu đánh cá, kể cả tàu nước ngoài, ghé vào xin nước ngọt, những người trên đảo đều nhiệt tình san sẻ "vì cũng là người với nhau".

Ông Tạ Hồng Tân, một trong những người Việt Nam cuối cùng rời khỏi Hoàng Sa nhớ lại: "Sáng đó (19.1.1974), chúng tôi dậy tập thể dục. Mặt trời lên rất đẹp. Bất ngờ một người nhìn thấy ngoài khơi có rất nhiều tàu bao vây quanh đảo - tàu của Trung Quốc". Đó là một ngày đau đớn không quên trong đời ông già năm nay đã 73 tuổi, hiện sống ở phường An Hải Đông, thành phố Đà Nẵng. Được điều ra làm quan trắc viên Trạm khí tượng Hoàng Sa cuối năm 1973. Ông kể, tất cả những người, trong đó có nhiều nhân viên khí tượng khi đến Hoàng Sa, những giờ rảnh rỗi họ ra những tảng đá ven biển khắc họ tên và địa chỉ mình lên đó làm kỷ niệm. Khi ông Tân ra thì đã thấy lớp lớp tên người Việt Nam trên đá.

Mới đó mà đã 34 năm rồi...

*

Trải qua nhiều thay đổi về hành chính, từ tháng 1.1997, huyện đảo Hoàng Sa trở thành một trong 7 quận huyện của thành phố Đà Nẵng. Đây là một quần đảo san hô nằm cách thành phố Đà Nẵng 170 hải lý (khoảng 315 km), bao gồm các đảo: đảo Hoàng Sa, đảo Đá Bắc, đảo Hữu Nhật, đảo Đá Lồi, đảo Bạch Quy, đảo Tri Tôn, đảo Cây, đảo Bắc, đảo Giữa, đảo Nam, đảo Phú Lâm, đảo Linh Côn, đảo Quang Hòa, Cồn Bông Bay, Cồn Quan Sát, Cồn Cát Tây, Đá Chim Yến, Đá Tháp. Huyện đảo có diện tích 305 km2, chiếm 24,29% diện tích thành phố.

Trong cuộc gặp gỡ mới đây của những người từng ở Hoàng Sa hiện đang sống tại Đà Nẵng, tất cả đều có một nguyện vọng thiết tha là được một lần trở lại Hoàng Sa, nơi họ gửi lại những kỷ niệm của thời trai trẻ. Đó là máu thịt, là những gì không thể tách rời trong một cơ thể Vệt Nam!

Không chỉ họ mà tất cả chúng ta đều đau đáu một nỗi niềm như thế.

Đà Nẵng có một bài hát có lời rất hay: "Núi trong lòng thành phố, phố trong lòng biển xanh". Tôi muốn mượn ý này để nói về Hoàng Sa: "Đảo trong lòng thành phố, phố trong lòng biển xanh". Hoàng Sa thân yêu mãi mãi nằm giữa lòng người Đà Nẵng, người Việt Nam!

Theo Nguyễn Thế Thịnh
báo Thanh Niên

Đài Loan thừa gió bẻ măng, chiếm đảo Ba Bình

Details
Quần đảo Hoàng Sa
31 January 2008
Hits: 14038

Địa lý quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Quần đảo Trường Sa trải dài từ vĩ độ 6O2 vĩ B tới 11O28 vĩ B, (1.4) từ kinh độ 112OĐ đến 115OĐ trong vùng biển, chiếm khoảng 160.000-180.000km2. Biển tuy rộng nhưng diện tích các đảo, đá, bãi nổi lên khỏi mặt nước lại rất ít, tổng cộng chỉ khoảng 11km2, cách Vũng Tàu 305 hải lý, Cam Ranh 250 hải lý, đảo Phú Quốc 240 hải lý, cách Bình Thuận (Phan Thiết) 270 hải lý.

Quần đảo bao gồm 137 đảo, đá, bãi, không kể năm bãi ngầm thuộc thềm lục địa Việt Nam (gồm bãi Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Nguyên, Tư Chính).

Căn cứ vào hải đồ vẽ năm 1979 của Cục Bản đồ quân sự Bộ Tổng tham mưu (Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), quần đảo Trường Sa có thể chia làm chín cụm chính kể từ bắc xuống nam trong đó có cụm đảo Nam Yết hay Ti Gia gồm đảo Nam Yết (Namyit Island, 10O11 vĩ B, 114O217 kinh Đ), đảo Sơn Ca (Sand Cay, 10O227 vĩ B, 114O285 kinh Đ), đảo Ba Bình (Itu Aba Island, 10O228 vĩ B, 114O217 kinh Đ), cùng bãi Bàn Than (10O231 vĩ B, 114O245 kinh Đ), đá Núi Thị (Petley Reef, 10O247 vĩ B, 114O348 kinh Đ), đá Én Đất (Eldad Reef, 10O21 vĩ B, 114O41 kinh Đ), đá Lạc (10O102 vĩ B, 114O148 kinh Đ), đá Gaven (Gaven Reef, 10O127 vĩ B, 114O13 kinh Đ), đá Lớn (Great Discovery Reef, 10O045 vĩ B, 113O52 kinh Đ), đá Nhỏ (Small Discovery Reef, 10O015 vĩ B, 114O015 kinh Đ), đá Đền Cây Cỏ (Western or Flora Temple Reef, 10O147 vĩ B, 114O375 kinh Đ). Cụm này có đảo rộng nhất của Trường Sa là Ba Bình và cao nhất là đảo Nam Yết, có nhiều lùm cây cao lớn nhất.

Đảo Ba Bình có độ cao chừng 4m, thấp hơn Nam Yết một chút, diện tích 489.600m2 (gần 50ha). Đảo này có điều kiện sinh hoạt tốt nhất, đất đai màu mỡ, trồng được khoai mì, rau cải, chuối... Xung quanh có san hô, mặt nước khá yên tĩnh, tàu nhỏ có thể cập bến khá tốt.

Năm 1933, với danh nghĩa "bảo hộ" Việt Nam, Pháp đã cho quân chiếm đóng, thiết lập đài quan trắc khí tượng mang số hiệu 48919, do World Meteorological Organisation cấp phát cùng với đài quan trắc ở Hoàng Sa (Pattle) mang số hiệu 48860 và Phú Lâm mang số hiệu 48859. Ngày 20-5-1956, Đài Loan đã xây dựng cơ sở quân sự kiên cố tại đây. Hiện ở đây có một sân bay nhỏ và cầu tàu cho các chiến hạm cặp bến.

Phía tây nam cụm Nam Yết có hòn Đá Chữ Thập (Fiery Cross or N.W, Kagilingan Reef, 9O353 vĩ B, 114O542 kinh Đ), là chỗ cao nhất của một bãi cạn dài 25km, rộng tối đa 6km, bị quân Trung Quốc chiếm đóng, biến nơi đây là cơ sở quân sự quan trọng.

Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, chế độ bảo hộ Pháp có viên khâm sứ đứng đầu Trung kỳ chịu trách nhiệm quản lý quần đảo Hoàng Sa. Trong khi Nam kỳ quản lý quần đảo Trường Sa, lại ở dưới chế độ thuộc địa Pháp, song thực chất tất cả đều thuộc chế độ đô hộ kiểu trực trị của Pháp. Mọi quyền hành trong tay Pháp. Chính quyền Nam triều chỉ có trên danh nghĩa. Song trên thực tế chính quyền thuộc địa Pháp cũng đã có những hành động cụ thể củng cố, khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Vì sao Đài Loan chiếm đảo Ba Bình, lúc nào? Tuổi Trẻ xin giới thiệu những tư liệu lịch sử của nhà sử học Nguyễn Nhã.

Năm 1946, vào lúc Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đang bận đối phó với cuộc chiến tranh toàn diện sắp xảy ra thì hạm đội của Trung Hoa Dân Quốc gồm bốn chiến hạm xuất phát từ cảng Ngô Tùng tới đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đây ngày 29-11. Lúc này Trung Quốc còn gọi Hoàng Sa là Đoàn Sa, chưa phải mang tên Nam Sa.

Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp trên của Trung Hoa Dân Quốc và ngày 17-10-1947, thông báo hạm Tonkinois của Pháp được phái đến Hoàng Sa để yêu cầu quân Trung Hoa Dân Quốc rút nhưng họ không rút. Pháp gửi một phân đội lính trong đó có cả quân lính "quốc gia Việt Nam" đến đóng một đồn ở đảo Pattle (Hoàng Sa).

Năm 1950, quân Tưởng rút khỏi Hoàng Sa và Trường Sa

Ngày 14-10-1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho chính phủ Bảo Đại quyền quản lý các quần đảo Hoàng Sa. Thủ hiến Trung phần là Phan Văn Giáo đã chủ tọa việc chuyển giao quyền hành ở quần đảo Hoàng Sa.

Lợi dụng tình hình rối ren Nhật đầu hàng đồng minh, quân Tưởng Giới Thạch được giao phó giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc theo hiệp định Postdam đã lại chiếm giữ đảo Phú Lâm (Ile Boisée) cuối năm 1946 thuộc quần đảo Hoàng Sa và đảo Ba Bình (Itu Aba) thuộc quần đảo Trường Sa vào đầu năm 1947.

Đến năm 1950, khi quân Trung Hoa Dân Quốc đã rút khỏi Hoàng Sa và Trường Sa và hòa ước San Francisco buộc Nhật từ bỏ sự chiếm đóng hai quần đảo này, thì thủ tướng kiêm ngoại trưởng Trần Văn Hữu của chính phủ Bảo Đại đã tuyên bố rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam. Sau năm 1950, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không còn quân nước ngoài chiếm đóng ngoài lực lượng trú phòng Việt Nam của chính quyền Bảo Đại.

Hiệp định Genève ký kết năm 1954 chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất của nước Việt Nam. Điều 1 qui định đường ranh tạm thời về quân sự được ấn định bởi sông Bến Hải (ở vĩ tuyến 17). Đường ranh tạm thời này cũng được kéo dài ra trong hải phận bằng một đường thẳng từ bờ biển ra ngoài khơi theo điều 4 của hiệp định. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở biển Đông ở dưới vĩ tuyến 17 sẽ đặt dưới sự quản lý hành chính của phía chính quyền quản lý miền Nam.

Như thế, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được đặt dưới sự quản lý hành chính của chính quyền Việt Nam cộng hòa, lúc ấy hai quần đảo này chưa có sự chiếm đóng của bất cứ quân đội nước nào ngoài quân đội Pháp.

Trung Quốc, Đài Loan cưỡng chiếm hai đảo lớn

Ngày 1-6-1956, ngoại trưởng chính quyền Việt Nam cộng hòa Vũ Văn Mẫu ra tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 22-8-1956, lực lượng hải quân của chính quyền Việt Nam cộng hòa đã đổ bộ lên các hòn đảo chính của nhóm Trường Sa, dựng một cột đá và trương cờ. Tháng 10-1956, hải quân Đài Loan đến chiếm đảo Ba Bình (Itu Aba). Cũng năm 1956, Trung Quốc chiếm đảo Phú Lâm, đảo lớn nhất trong quần đảo này.

Sau khi Hoàng Sa thất thủ vào tháng 1-1974, đầu tháng 2-1974, chính quyền Việt Nam cộng hòa quyết định tăng cường phòng thủ các đảo ở quần đảo Trường Sa, đưa lực lượng ra đóng ở năm đảo thuộc Trường Sa. Qua đại sứ ở Philippines, chính quyền Sài Gòn khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Ngày 1-2-1974, đoàn đại biểu của Việt Nam cộng hòa ra tuyên bố tại hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Luật biển Caracas khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo, tố cáo Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa.

Ngày 30-3-1974, đại biểu chính quyền Việt Nam cộng hòa khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội đồng kinh tài Viễn Đông họp tại Colombia.

Ngày 14-2-1975, Bộ Ngoại giao chính quyền Việt Nam cộng hòa công bố Sách trắng về Hoàng Sa và Trường Sa.

Họ đã thừa gió bẻ măng!

Sau năm 1975 cho đến nay, Đài Loan vẫn chiếm giữ trái phép đảo Ba Bình (Itu Aba) thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Chiếm giữ như thế là do lợi dụng hoàn cảnh Việt Nam đang lâm nạn, bị mất chủ quyền, thực dân đô hộ và chiến tranh, nhất là thời điểm quân Pháp rút khỏi Việt Nam.

Để bố phòng khoảng trống lực lượng trên biển Đông, Đài Loan cùng một số nước bất chấp lẽ phải, bất chấp luật pháp quốc tế, chà đạp lên sự thật chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bất khả tranh nghị.

"Cái gì của César phải trả lại cho César!". Đó cũng là lời nguyền và cũng là trách nhiệm của mọi con dân đất Việt, không phân biệt già trẻ, chính kiến, ở trong hay ở ngoài nước!

Nhà sử học Nguyễn Nhã
(theo Tuổi Trẻ)

Âm mưu, hành động xâm lấn Hoàng Sa...

Details
Quần đảo Hoàng Sa
26 January 2008
Hits: 15486

Một số âm mưu và hành động xâm lấn Hoàng Sa, Trường Sa của Trung Quốc trong quá khứ

Với diện tích khoảng gần 3,5 triệu km2 và với 9 nước nằm xung quanh, biển Đông là một trong những biển lớn nhất thế giới. Trên biển Đông có nhiều tuyến giao thông hàng hải, hàng không quan trọng giữa châu Á và châu Âu, giữa nhiều khu vực quan trọng của châu Á. Biển Đông còn là địa bàn quân sự chiến lược quan trọng không những đối với tất cả các nước trong khu vực Đông Nam Á mà còn là địa bàn chiến lược bản lề giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Trên biển Đông có 3 quần đảo: Đông Sa, Hoàng Sa, Trường Sa và một bãi ngầm (bãi này chưa đủ tiêu chuẩn một quần đảo, tên gọi quốc tế là bãi Maccles Field).

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vốn là lãnh thổ của Việt Nam từ lâu đời. Nằm trên một vùng biển rộng lớn (vùng Hoàng Sa rộng khoảng 13.000 km2, vùng Trường Sa rộng khoảng 18.000 km2), ở vào một vị trí chiến lược trọng yếu trên biển Đông chỉ cách bờ biển Việt Nam khoảng 120-250 hải lý, lại được các nhà khoa học thế giới đánh giá sơ bộ là có nhiều dầu khí, nên hai quần đảo có vai trò rất quan trong đối với việc phòng thủ cũng như việc xây dựng, phát triển kinh tế của Việt Nam.

Vì thế với chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc, biển Đông chính là một mục tiêu trước mắt trong chiến lược toàn cầu của Bắc Kinh.

Bản đồ “Trung Hoa nhân dân cộng hòa quốc phân tỉnh tinh đồ” xuất bản năm 1950 đã vẽ trong một phụ đồ cả ba quần đảo trên biển Đông và bãi ngầm Maccles Field (mà Trung Quốc gọi là Trung Sa) và thể hiện đường biên giới của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ôm lấy cả biển Đông (các bản đồ xuất bản sau này ghi rõ đường biên giới đó là “quốc giới”. Đường biên giới này được vạch xuống đến tận vĩ tuyến 40 bắc cách đảo Hải Nam của Trung Quốc gần 2000km và chỉ cách lãnh thổ Malaysia chưa đầy 40km, cách bờ biển Philipine và Việt Nam từ 70-80km. Theo đường biên giới này thì Trung Quốc làm chủ khoảng 80% biển Đông.

Cũng cần nhắc lại rằng đến đầu thế ký 20, “Đại Thanh đế quốc toàn đồ” xuất bản năm 1905, tái bản năm 1910 đã thể hiện rất rõ ràng điểm cực nam của Trung Quốc chỉ là đảo Hải Nam và “Trung Quốc địa lý học giáo khoa thử” xuất bản năm 1906 ghi rõ điểm mút ở phía nam Trung Quốc là Châu Nhai, Quỳnh Châu, vĩ tuyến 18013' bắc.

Ngày 15-08-1951, Chu Ân Lai tuyên bố rằng các quần đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa), Nam Sa (tức Trường Sa), Đông Sa, Trung Sa là lãnh thổ của Trung Quốc từ lâu đời. Đây là tuyên bố chính thức đầu tiên của Chính phủ cộng hòa nhân dân Trung Hoa nêu lên yêu sách đối với các quần đảo trên biển Đông.

Năm 1956, Trung Quốc cho quân ra chiếm nhóm quần đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa lúc đó đang thuộc quyền quản lý của chính quyền Sài Gòn.

Năm 1958, “Tuyên bố về lãnh hãi của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa lại xác định các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Trung Quốc.

Năm 1959, Trung Quốc cho tàu thuyền đánh cá có vũ trang hoạt động khiêu khích và thăm dò ở phía tây của quần đảo Hoàng Sa. Nhưng trước sự phản ứng mạnh mẽ của chính quyền Sài Gòn, lại chưa biết rõ thái độ của Mỹ, nên Trung Quốc tạm thời chấm dứt khiêu khích để chuẩn bị thêm và chờ đợi thời cơ.

Tháng 1-1974, sau khi đón tiếp tổng thống Mỹ Ních-xơn (1972) và lợi dụng tình hình nhân dân Việt Nam đang phải tập trung vào nhiệm vụ chống Mỹ, Trung Quốc đã huy động các lực lượng hải, lục, không quân đánh chiếm nốt phần phía tây của quần đảo Hoàng Sa, hoàn thành việc xâm chiếm toàn bộ quần đảo này. Khi đó hạm đội 7 của Mỹ nhận được nghiêm lệnh không được có bất cứ hành động nào ở khu vực này.

Sự cấu kết Mỹ -Trung Quốc trong sự kiện Hoàng Sa hiển nhiên đến mức chính quyền Sài Gòn, tay sai của Mỹ, cũng dễ dàng nhận thấy ngay.

Ngày 2-2-1974, Đại sứ của chính quyền Sài Gòn ở Mỹ là Trần Kim Phượng đã báo cáo rằng:

“Qua cuộc trao đổi ý kiến với trợ lý Bộ trưởng ngoại giao Ác-thu Hun-men và là thành viên Hội đồng an ninh quốc gia của Nhà Trắng, ông ta cho biết Ngoại trưởng Kít-xin-giơ chỉ coi cuộc tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa như là một vấn đề ngoài lề, thậm chí là điều bất lợi trong khung cảnh của sự phối hợp với Trung cộng để hạn chế bắc Việt Nam”.

Cùng ngày 2-2-1974, trong một tài liệu viết tay để cùng với mấy người thân cận trao đổi, Nguyễn Văn Thiệu có tính đến khả năng Trung cộng sẽ đánh quần đảo Trường Sa và “chiếm par force (tức là bằng vũ lực) giống như Paracels (tức quần đảo Hoàng Sa) có complicite (tức là sự đồng lõa) hoặc laisser faire (tức sự làm ngơ) của Mỹ...”

Từ đó về sau, Trung Quốc vẫn ráo riết thực hiện ý đồ xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam bằng cách:

  1. Ra sức củng cố thế chiếm đóng trên quần đảo Hoàng Sa:
    Làm sân bay, xây dựng căn cứ hải quân (tháng 6-1982. Tân Hoa xã đưa tin là các kỹ sư Trung Quốc đã xây dựng một khu cảng lớn trên quần đảo Hoàng Sa), lập đường hàng hải thường kỳ giữa Hải Nam và Hoàng Sa, xây dựng đài truyền hình chuyển tiếp trên quần đảo bắt đầu hoạt động từ tháng 1-1983, công bố 4 vùng nguy hiểm trong đó có vùng sát ngay quần đảo Hoàng Sa buộc các nước có máy bay bay qua vùng này phải tuân theo quy định của Trung Quốc để chứng minh rằng Trung Quốc có chủ quyền ở vùng này.

    Về mặt chính quyền, Trung Quốc thành lập một đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Quảng Đông đặt ở Hoàng Sa nhưng phụ trách cả ba quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa) và Trung Sa (bãi Maccles Field).

  2. Trung Quốc liên tiếp khẳng định chủ quyền trên cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và huy động mọi công cụ, lợi dụng mọi cơ hội, mọi diễn đàn quốc tế để “hợp pháp hóa” hành động xâm lược đối với quần đảo Hoàng Sa đồng thời chuẩn bị dư luận và xây dựng cơ sở pháp lý để xâm chiếm quần đảo Trường Sa. Điều này thể hiện qua:

Các tuyên bố chính thức và các hoạt động cấp nhà nước:

Sau đây là một số sự kiện chính:

        • Trong báo cáo về chính sách đối ngoại của Trung Quốc năm 1977, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc là Hoàng Hoa đã ngạo nghễ nói: khi có thời cơ sẽ thu hồi toàn bộ quần đảo Nam Sa (Trường Sa), không cần thương lượng gì hết.

        • Tháng 1-1980, Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố một văn kiện dài “Chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa là không thể tranh cãi”.

        • Đầu năm 1982, Dương Đắc Chí và Dương Dũng – Tổng tham mưu trưởng và phó tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc – mang đất từ Trung Nam Hải ra Hoàng Sa trồng dừa tượng trưng.

        • Tháng 11-1982, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc “một lần nữa khẳng định rằng quần đảo Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ thiêng liêng không thể chia cắt của Trung Quốc”.

        • Đầu năm 1983, nhân dịp tết Nguyên Đán, Bí thư và Chủ tịch tỉnh Quảng Đông ra thăm quần đảo Hoàng Sa.

 

Về mặt khảo cổ và lịch sử học:

Trung Quốc công bố, viện dẫn, bịa đặt, xuyên tạc nhiều tư liệu khảo cổ (đồng tiền cổ, di chỉ cư trú, mồ mả,..), tư liệu lịch sử mơ hồ để hòng chứng minh rằng ít nhất là từ thế kỷ thứ 3, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã là lãnh thổ Trung Quốc.

 

Về địa lý, địa chất:

 

Năm 1971, Trung Quốc công bố một bản đồ thể hiện thềm lục địa của Trung Quốc kéo dài từ Mông Cổ đến tận Booc-nê-ô và do đó tất nhiên là bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1975, Trung Quốc công bố kết quả điều tra của Viện hải dương học biển “Nam Hải” của Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc về địa hình đáy biển Nam Trung Hoa; kết luận đó coi các đảo Tây Sa (Hoàng Sa) cũng như tất cả các đảo khác của biển Nam Trung Hoa chỉ là các cồn và bãi nổi của thềm lục địa Trung Quốc.

Tại đại hội các nhà địa chất ở Pa-ri năm 1980 và tại hội nghị địa chất và dầu khí vùng biển “Nam Trung Hoa” ở Hô-nô-lu-lu năm 1980, Trung Quốc đã phân phát tài liệu về quan điểm của họ.

Cũng trong năm 1980, Trung Quốc còn đưa ra một luận cứ trắng trợn đến cao độ nói rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa mà Việt Nam nói là của mình chỉ là các đảo ven bờ của Việt Nam, không phải là Tây Sa, Nam Sa của Trung Quốc. Việt Nam đã cố ý lầm lẫn để nhận vơ hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa của Trung Quốc.

Về luận cứ địa lý của Trung Quốc trong cuốn “Trung Quốc bành trướng trên hướng biển” xuất bản năm 1980, E.D. Xtê-pa-nốp, một tác giả Xô Viết, đã coi đây là những luận cứ khoa học giả hiệu. Còn luật gia Pháp Pe-ri-ơ thì viết: “Tính chất hết sức quá đáng của tham vọng làm cho luận cứ của Trung Quốc mất hết giá trị; họ đã mở rộng biên giới biển ra cách bờ biển Trung Quốc đến 1000 hải lý”.

 

Trong các tổ chức và hội nghị khoa học kỹ thuật quốc tế:

Trong tổ chức Hàng không quốc tế: trước ngày 30-4-1975, theo phân công của tổ chức Hàng không quốc tế thì việc hướng dẫn bay trong phạm vi vùng trời miền nam Việt Nam, Cam-pu-chia, một phần nước Lào và một khu vực quan trọng trên biển Đông bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và phần lớn quần đảo Trường Sa do vùng thông báo bay Sài Gòn (gọi tắt là Fir Sài Gòn, nay là Fir Hồ Chí Minh) phụ trách. Sau khi miền nam Việt Nam được giải phóng, tổ chức Hàng không quốc tế tạm giao việc hướng dẫn bay ở vùng này cho 3 Fir đảm nhiệm (Fir Băng Cốc, Fir Xinh-ga-po và Fir Hồng Công). Khi Việt Nam đã chuẩn bị xong để tiếp nhận Fir Hồ Chí Minh thì việc giao lại việc hướng dẫn bay ở vùng này cho Việt Nam là một việc bình thường. Nhưng Trung Quốc đã tìm mọi cách ngăn cản việc này. Tháng 2-1983, tại hội nghị không vận Châu Á – Thái Bình Dương lần 2 họp ở Xinh-ga-po, Trung quốc đã đòi mở rộng giới hạn trên biển của Fir Quảng Châu xuống vào vùng quần đảo Hoàng Sa và Vịnh Bắc Bộ, lấn vào Fir Hà Nội và giành lấy một phần quan trọng trên biển thuộc Fir Hồ Chí Minh.

Trong tổ chức Bưu điện quốc tế: Lợi dụng năm 1978, Việt Nam không có mặt trong hội nghị hành chính thế giới về thông tin vô tuyến hàng không dân dụng, Bắc Kinh đã tranh thủ được một quyết định chính thức của hội nghị cho Bắc Kinh độc quyền sử dụng tất cả 101 tần số trong vùng biển Đông với thâm ý là để chứng tỏ rằng Trung Quốc có chủ quyền ở vùng này. Năm 1982, Tổng cục Bưu điện Việt Nam (nay là Bộ Bưu chính Viễn thông) đã phản đối và đòi sửa lại nhưng trên thực tế việc thay đổi quyết định nói trên không dễ dàng. Trên biên giới miền nam Trung Quốc giáp Việt Nam, Trung Quốc tranh thủ đăng ký một mạng dày đặc trong hệ thống thông tin vô tuyến quốc tế, theo quy tắc chung của bưu điện quốc tế, nếu ta dùng trùng vào tần số các đài đã đăng ký thì phải giảm công suất. Người phụ trách trung tâm tần số của Tổng cục bưu điện Việt Nam lúc đó đã nhận xét là Trung Quốc có ý đồ bao vây Việt Nam về mặt tần số cả trên đất liền, trên biển.

Trong tổ chức Khí tượng thế giới: Trung Quốc đã đăng ký được trạm khí tượng mà họ đã đặt trái phép trên quần đảo Hoàng Sa và tìm cách chính thức xóa tên trạm khí tượng Hoàng Sa của Việt Nam đã có từ lâu trong hệ thống trạm khí tượng thế giới.

Đối với quần đảo Trường Sa, Trung Quốc dùng thủ đoạn lộn sòng đăng ký được một trạm khí tượng trên đảo Ba Bình (Itu Aba) hiện này do Đài Loan chiếm đóng trái phép và là nơi đang có một trạm khí tượng của Đài Loan hoạt động. Mặt khác, Trung Quốc tìm cách ngăn trở việc Việt Nam đăng ký trạm khí tượng Trường Sa vào hệ thống trạm khí tượng thế giới mặc dù trạm của Việt Nam đang hoạt động thực sự.

Các thủ đoạn của Trung Quốc trong việc xây dựng luận cứ lịch sử, địa lý và pháp lý nhằm hợp pháp hóa hành động xâm lược quần đảo Hoàng Sa và chuẩn bị dư luận để thực hiện ý đồ xâm lược quần đảo Trường Sa thật là xảo quyệt. Nhưng chỗ yếu nhất, điểm không thể nào khắc phục nổi của Trung Quốc là không làm sao chứng minh được rằng nhà nước Trung Quốc đã chiếm hữu “Tây Sa”, “Nam Sa” từ bao giờ và đã thực hiện “chủ quyền” của mình đối với hai quần đảo đó như thế nào. Trong khi đó ai cũng biết rằng năm 1974 chính Trung Quốc đã dùng vũ lực trắng trợn xâm lược quần đảo Hoàng Sa lúc đó do chính quyền Sài Gòn thực sự quản lý.

 

Theo “Những vấn đề biên giới hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc” của Lê Minh Nghĩa đăng trong quyển “Một số đặc điểm của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc chống Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia” của Viện Mác – Lê nin do nhà xuất bản Thông Tin lý luận xuất bản năm 1984.

Một thời trai trẻ ở Hoàng Sa

Details
Quần đảo Hoàng Sa
24 December 2007
Hits: 4616
Image
Hải đăng trên đảo Hoàng Sa (ảnh chụp trước Thế chiến thứ 2 được lưu tại phòng lưu niệm kỷ vật Hoàng Sa).

Chiều 11-12-2007, UBND huyện đảo Hoàng Sa, TP Đà Nẵng tổ chức một cuộc gặp gỡ cảm động với những người từng sống và làm việc trên đảo Hoàng Sa. Đó là những cựu nhân viên của Trạm quan trắc khí tượng Hoàng Sa hiện đang sống ở Đà Nẵng.

Trong căn phòng bốn bề treo đầy những kỷ vật, tranh, ảnh của Hoàng Sa, ba cựu nhân viên khí tượng say sưa nói về những ngày "đo mưa đếm gió” trên đảo Hoàng Sa thân yêu.

Ba ông già ấy là Tạ Hồng Tấn, Võ Như Dân và Ngô Tấn Phát, tuổi đã ngoài 80. Trong đó, ông Tạ Hồng Tấn là một trong những người cuối cùng rời khỏi đảo vào một ngày không thể quên của năm 1974.

 

Ký ức

Mái tóc bạc phơ, ông Tấn chậm rãi nói: "Gặp lại anh em xưa, tôi thấy nhớ hòn đảo ấy quá chừng". Ông Tấn chỉ lên tấm bản đồ có chấm đỏ mang tên Hoàng Sa treo trên tường, bồi hồi nhớ lại.

Năm 20 tuổi, cậu thanh niên Sài Gòn Tạ Hồng Tấn được Nha Khí tượng Sài Gòn cử đi học nghiệp vụ một năm tại Cát Bi (Hải Phòng). Tốt nghiệp khóa học, ông Tấn được cử về phục vụ tại Trung tâm Khí tượng Đà Nẵng. Đầu năm 1963, Nha Khí tượng Sài Gòn quyết định cử ông ra Hoàng Sa làm việc ở trạm quan trắc khí tượng.

Image
Đào giếng lấy nước ngọt trên đảo Hoàng Sa (ảnh chụp năm 1938, hiện được lưu tại phòng lưu niệm kỷ vật Hoàng Sa)

Ông Tấn cười: "Đó là lẽ đương nhiên, không riêng gì tôi, tất cả những ai làm ở Nha Khí tượng đều ít nhất vài lần ra đảo". "Đúng 5g chiều, tại cảng Đà Nẵng, tôi cùng ba chuyên viên khí tượng, một kỹ sư vô tuyến điện và một phục vụ hậu cần lên tàu. Tàu chạy suốt đêm, đến 6g sáng hôm sau thì cập đảo Hoàng Sa".

Hoàng Sa ngày ấy là một hòn đảo vắng vẻ, chỉ dăm bụi cây cao chừng 3m. Rất ít chim và nước thì xanh trong. Trạm quan trắc khí tượng xây dựng kiên cố trên một điểm cao, ở đó có cả một tháp quan sát, đây cũng là nơi có ngọn hải đăng luôn được thắp sáng hằng đêm. Đồn lính thì nằm dưới chân đảo.

Mỗi ngày, trạm đều đặn quan trắc ba giờ một lần. Những thông số như sức gió, lượng mưa, nhiệt độ biển, áp suất, ẩm độ... lần lượt được chuyển về Sài Gòn bằng tín hiệu morse.

"Những lúc rảnh rỗi, tôi cùng các đồng nghiệp đi dạo khắp đảo. Lúc câu cá, khi thì đi tìm san hô, vỏ ốc, rong biển đem về làm quà kỷ niệm. Không một ngóc ngách nào của Hoàng Sa mà tôi chưa đặt chân đến" - ông Tấn kể.

Vào giữa năm 1964, ông cùng các cộng sự của mình đối mặt với một cơn bão biển dữ dội: "Bão gió ngút trời, như muốn nhấn chìm cả hòn đảo. Trước khi bão đổ bộ, chúng tôi đã hoàn tất bản tin báo bão từ Hoàng Sa gửi về Sài Gòn. Đến khi bão tan, dắt tay nhau lên trên mỏm núi đá cao nhất của đảo mà nhìn đất trời, thấy hạnh phúc vô cùng. Biển ở Hoàng Sa đẹp lắm" - ông Tấn nói.

Cả ông Tấn, ông Dân và ông Phát đều kể rằng có một điều mà bất kỳ người nào đặt chân lên đảo Hoàng Sa đều làm và làm một cách đầy tự hào, đó là khắc tên mình lên những hòn đá cuội lớn nằm quanh đảo.

"Ngay trưa của ngày đầu tiên đặt chân lên đảo, tôi đã khắc tên mình lên vách đá”. Dòng chữ đó ông Tấn vẫn còn nhớ như in: "Tạ Hồng Tấn - chuyên viên Nha Khí tượng Sài Gòn đã đến đây - 1963".

Nhưng đấy chỉ là hàng chữ trong vô số bút tích chi chít trên những vách đá Hoàng Sa. "Đó là dấu tích kỷ niệm của những ngày trai tráng lãng mạn để lại giữa biển đảo Hoàng Sa, cái tên đã trở nên thiết tha với những ông lão này" - ông Tấn tâm sự.

Một ngày không quên


Cũng như ông Tấn, những kỷ niệm một thời ở Hoàng Sa vẫn còn nguyên với ông Ngô Tấn Phát: "Cứ ba tháng, chúng tôi lại ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ một lần. Khi đi thì gồng gánh đủ cả hàng tạ những gạo, nếp, đậu xanh, gà, vịt sống đem ra nuôi ăn dần. Tôi chưa quên được cảm giác lần đầu ra đảo. Lúc đi thì đông đủ anh em, vợ con đưa tiễn. Nhưng khi tàu rời bến xa dần đất liền mới thấy mình đơn lẻ. Chúng tôi sống trên Hoàng Sa cùng sóng gió và trạm quan trắc. Thỉnh thoảng mới thấy vài chiếc tàu hàng đi ngang qua đảo".

Image
Các cựu chuyên viên khí tượng của Nha Khí tượng Sài Gòn (từ trái sang): Võ Như Dân, Ngô Tấn Phát và Tạ Hồng Tấn - Ảnh: Anh Kiệt

Ông Võ Như Dân, người từng có mặt ở Hoàng Sa từ những năm 1956, quả quyết: đặc sản của Hoàng Sa chính là ốc gân - loại ốc to bằng chiếc đĩa, ăn giòn và thơm. "Nghề của tôi là chế hơi và bơm bóng thám không phục vụ các quan trắc viên đo gió trên đảo" - ông Dân kể.

Với ông Tạ Hồng Tấn thì ngày 19-1-1974 là một ngày không thể quên. "Qua ống kính quan trắc, chúng tôi thấy từ xa lô nhô tàu chiến lớn nhỏ vây quanh Hoàng Sa. Tất cả thả neo dừng lại phía ngoài khơi. Họ chờ đến khi hoàng hôn vừa buông xuống thì nổ súng. Đạn bay vèo vèo vào đảo. Chừng 30 phút sau, những chiếc tàu hải quân Trung Quốc tiến vào đảo".

Ông Tấn nhớ lại: ông cùng năm đồng nghiệp bị bắt đưa lên tàu, chở đến đảo Hải Nam. Đến tháng 3-1974, ông và nhiều người khác được trao trả tại Hong Kong, rồi lên máy bay về lại Sài Gòn. Sau 1975, ông Tấn tiếp tục công việc ở Đài Khí tượng thủy văn miền Trung đóng tại Đà Nẵng, một thời gian ngắn thì về hưu, sống yên bình cùng con cháu.

Ông Tấn nói bây giờ mỗi ngày xem bản tin dự báo thời tiết về Hoàng Sa trên báo Tuổi Trẻ, ông lại bâng khuâng như thể đang ở trạm quan trắc Hoàng Sa để "đo gió đếm mưa".

-------------------

Huyện đảo Hoàng Sa của TP Đà Nẵng có hơn 30 đảo, bãi đá san hô và bãi cạn nằm ở khu vực biển giữa vĩ độ 15O45 - 17O15 Bắc và kinh độ 111O-113O Đông, trên vùng biển rộng khoảng 16.000m2, cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) khoảng 120 hải lý. Diện tích toàn bộ phần đảo nổi của quần đảo khoảng 10km2, trong đó đảo Phú Lâm là đảo lớn nhất (khoảng 1,5km2).

Dưới triều Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa thuộc phủ Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Nam. Năm 1938, thuộc tỉnh Thừa Thiên. Ngày 13-7-1961, tổng thống chính quyền Sài Gòn ra sắc lệnh số 174 - NV quyết định đặt quần đảo Hoàng Sa thành một đơn vị hành chính gọi là xã Định Hải, thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.

Năm 1982, huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Năm 1997, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng chia tách, theo nghị định số 07/CP ngày 23-1-1997 của Chính phủ, Hoàng Sa trở thành huyện đảo của TP Đà Nẵng.

Hiện cơ quan thường trú của UBND huyện đảo Hoàng Sa đặt tại 132 Yên Bái, TP Đà Nẵng. UBND TP Đà Nẵng đã phân công ông Đặng Công Ngữ - giám đốc Sở Nội vụ - kiêm nhiệm vụ chỉ đạo và theo dõi hoạt động ở Hoàng Sa. Tại đây còn có một phòng trưng bày với hàng trăm hiện vật, tư liệu quí về Hoàng Sa.


ĐĂNG NAM - ANH KIỆT
Tuổi Trẻ online

More Articles …

  1. Ký ức Hoàng Sa
  1. You are here:  
  2. Home
  3. CHUYÊN ĐỀ
  4. Di tích
  5. Nhà tù Phú Quốc
Copyright © 2026 Lịch Sử Việt Nam - Vietnam history. All Rights Reserved. Designed by JoomlArt.com. Joomla! is Free Software released under the GNU General Public License.