Sidebar

  • TRANG CHÍNH
  • LƯỢC SỬ TÓM TẮT
  • CHUYÊN ĐỀ
  • CỔ SỬ
  • THƯ VIỆN
  • ẢNH LỊCH SỬ
Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history
  • TRANG CHÍNH
  • LƯỢC SỬ TÓM TẮT
  • CHUYÊN ĐỀ
    • Nhân vật
    • Sự kiện
    • Hiện vật
    • Di tích
    • Hồi ký
  • CỔ SỬ
    • Đại Việt sử ký toàn thư
    • Huyền sử, dã sử
  • THƯ VIỆN
  • ẢNH LỊCH SỬ
    • Việt Nam triều Nguyễn

Nhà tù Phú Quốc

Nhà tù Phú Quốc

Người cựu tù và bảo tàng kỷ vật

Details
Nhà tù Phú Quốc
07 November 2007
Hits: 3597

Có một người cựu tù Phú Quốc tên Lâm Văn Bảng, từ Hà Tây đã ba lần trở lại nhà tù Phú Quốc rồi đi Khánh Hòa, Đồng Nai, ngược lên Lạng Sơn, Vĩnh Phúc… Suốt 20 năm lặn lội vạn dặm đi tìm lại hơn 2.000 kỷ vật của những đồng đội đã vào sinh ra tử và trở về xây dựng một bảo tàng kỷ vật.

“Không quên một thời phải nhớ”

Image
Ông Lâm Văn Bảng giới thiệu những kỷ vật cho khách tham quan - Ảnh: Đặng Tuấn

Chiến dịch Mậu Thân năm 1968, ông Bảng tham gia cả hai đợt tiến công, bị thương nặng gãy hết cả chân tay và bị bắt về giam ở khám Chí Hòa. Cuối năm 1970, ông bị đưa ra Phú Quốc. Năm 1973, sau khi đã chịu đủ các đòn thù tra tấn “điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung”, ông được thả cùng với các tù nhân khác trong diện trao trả tù binh.

Trở về với cuộc sống đời thường, ông Bảng đem theo hàng chục vết sẹo do bom đạn, tra tấn và sau đó là bảy lần nằm trên bàn mổ mỗi khi trái gió trở trời. Thế nhưng, trong ký ức và trong cả giấc mơ của ông lúc nào cũng thường trực những hình ảnh về đồng đội phải chịu cực hình hay những lần san sẻ mỗi hớp nước khi khát cũng như những buổi sinh hoạt chi bộ ngầm trong vòng kìm kẹp của địch nơi “địa ngục trần gian” Phú Quốc... Hòa bình rồi, ông luôn tự dằn vặt mình: “Sao không có gì để ghi lại những tháng ngày bi tráng ấy?”.

Thế rồi, được tiếp sức từ những đồng đội và được động viên từ người cựu tù Phú Quốc là đại tá Tô Diệu, nguyên cục phó Cục Địch vận (Tổng cục Chính trị - QĐNDVN): “Làm được thế mọi người sẽ không quên về một thời phải nhớ”, ông Bảng quyết tâm và bắt đầu cuộc hành trình đi tìm lại những kỷ vật về đồng đội.

Mỗi kỷ vật mà ông Bảng tìm được chỉ đơn giản là cái bấm móng tay, đôi dép, cuốn sổ tay ghi chép của đồng đội, lá cờ Tổ quốc nhỏ xíu bằng bàn tay dùng để sinh hoạt chi bộ Đảng trong trại tù hay thậm chí là những chiếc đinh dùng để tra tấn đóng vào đầu tù binh cho đến chết…Thế nhưng, đối với ông Bảng, mỗi kỷ vật ghi dấu một hành trình, một kỷ niệm, một thước phim quay ngược ký ức về một thời bi tráng.

Ông Bảng đã ba lần quay trở lại nhà tù Phú Quốc. Lần thứ nhất ông đi và đem về một chiếc hộp bọc nỉ đỏ trong có chín chiếc đinh 5 phân đã gỉ. Vẻ mặt ông đau khổ đến tận cùng khi giới thiệu kỷ vật: “Nó là vật đã được dùng để tra tấn đóng vào đầu người tù Phạm Hồng Sơn - một thiếu úy đặc công trẻ của Hải quân Việt Nam - cho đến chết”. Những chiếc đinh ấy ông Bảng tìm lại được trong hộp sọ của người đồng đội khi bốc mộ cho anh.

Năm 1996, khi Điện ảnh Quân đội khởi quay bộ phim Người chiến thắng về cuộc chiến đấu của những tù binh Phú Quốc, ông Bảng trở lại Phú Quốc lần thứ hai và lần này ông cũng đã đem về một chiếc lược làm bằng mảnh xác máy bay, một đôi dép mòn đế của người bạn tù đã để lại trước khi chết. Những cuộc hành trình của người cựu tù cứ tiếp diễn, bước chân ông rải đều trên khắp ba miền Bắc - Trung - Nam.

Các cuộc hành trình ngày càng dày lên, đồng lương ít ỏi của ông ngày càng cạn kiệt và sức ông cũng vơi dần. Đã có những lần ông phải nhịn đói cả ngày trên xe khách Bắc - Nam vì tiền không còn và nắm cơm cuối cùng ông đem đi đã hết. May sao trên khắp các nẻo đường ông đi qua vẫn còn đó tấm lòng của những người cựu tù Phú Quốc tiếp sức cho ông.

Ông Bảng xúc động kể: "Nhớ nhất là lần vượt 1.500km đến Khánh Hòa để xin chiếc bấm móng tay mà cựu tù Lương Minh Dũng đang có. Chiếc bấm móng tay là kỷ vật cuối cùng duy nhất mà cha ông Dũng - cũng là một cựu tù Phú Quốc - để lại. Nó luôn nằm trên bàn thờ nhà ông ấy, là “vật thiêng” của gia đình người đã mất.

Ông Dũng chỉ đồng ý trao kỷ vật nếu cha ông cho phép qua việc xin “âm dương”. Nhưng đến lúc trao, cả nhà ông Dũng rơi nước mắt nên mình cũng chẳng kìm lòng được”. Hơn chục lần lặn lội xuống Thanh Oai, Hà Tây xin lá cờ dùng trong sinh hoạt chi bộ Đảng trong nhà tù mà người đồng đội Nguyễn Văn Dư đang giữ vẫn không được.

Đơn giản là vì đối với ông Dư, lá cờ quí như sinh mệnh bởi thấm đẫm máu và lòng sắt son của ông và bao nhiêu người lính ở Phú Quốc. “Thuyết phục mãi, tôi nói rằng tôi đem về để thực hiện một bảo tàng kỷ vật tù binh Phú Quốc để các thế hệ sau này còn nhớ tới cuộc chiến đấu của hàng vạn người nơi địa ngục trần gian, ông Dư mới trao cho nhưng lại òa khóc như một đứa trẻ” - ông Bảng ngậm ngùi kể.

Suốt 20 năm qua, cứ nghe nơi nào có những kỷ vật liên quan đến đồng đội trong nhà tù Phú Quốc là ông Bảng lại ra đi. Theo năm tháng, ngôi nhà cấp 4 của ông đã chật cứng với 2.000 kỷ vật.

Bảo tàng nơi xóm nhỏ

Năm 2004, bạn bè và cả những đồng đội cũ đã giúp ông Bảng hoàn thành tâm niệm: xây dựng một khu trưng bày các kỷ vật cựu tù Phú Quốc. Khu trưng bày của ông là căn nhà hai tầng chia làm 10 căn phòng và khu vườn rộng 1.600m2 ngay cạnh căn nhà cấp 4 cũ. Hơn 2.000 kỷ vật được ông cẩn thận chia ra từng nhóm theo mỗi căn phòng và cẩn thận ghi chú, giải thích ngắn gọn cạnh mỗi kỷ vật: “Chiếc bấm móng tay của cựu tù X…. Tìm thấy ngày… Đem về ngày…”; “ Đôi dép của cựu tù M. đã mất”…

Image
Ông Bảng và mô hình "chuồng cọp" tự dựng - Ảnh: Đặng Tuấn

Từ khi khu trưng bày mở cửa đón khách tham quan (11-2004), bên cạnh ông Bảng luôn là những bạn tù đến giúp ông trông nom và chăm sóc khu trưng bày. Những người cựu tù cũng phải làm luôn nhiệm vụ “hướng dẫn viên” kể lại chuyện xưa cho khách tham quan.

Ông Chu Hữu Ngọc, người bạn tù vẫn sát cánh với ông Bảng trong những cuộc hành trình đi tìm kỷ vật đồng đội và giúp ông mở khu trưng bày, tự hào nói: “Cái bảo tàng nơi xóm nhỏ này đã đón hàng vạn người đến tham quan rồi đấy. Nhưng quan trọng nhất, nó là nơi lưu giữ những gì còn sót lại trong quá khứ hào hùng của những người tù binh Phú Quốc”.

Các phòng trưng bày cũng sinh động hơn khi ông Lâm Văn Bảng đi sưu tầm những bức ảnh liên quan đến cuộc sống của những cựu tù. Từ những bức ảnh người tù bị tra tấn đến cảnh người tù vùng lên đấu tranh đều được ông giữ gìn cẩn thận trong khung kính. Ông Bảng cũng cất công tự tay thiết kế và xây dựng các mô hình tra tấn đày ải của nhà tù Phú Quốc như “chuồng cọp”, “cũi sắt”, “khám tối”, “biệt giam”…ngay trong vườn để khu trưng bày thêm thực tế. Ngay cạnh khu trưng bày, ông cũng xây một đền thờ những liệt sĩ là cựu tù với nắm đất ông lấy về sau những lần trở lại Phú Quốc.

TRẦN ĐÌNH TÚ
Theo Tuổi Trẻ

Cuộc đào thoát vĩ đại

Details
Nhà tù Phú Quốc
07 November 2007
Hits: 4307

Niềm khát khao tự do luôn nung nấu sau hàng rào dây thép gai. Đã có hàng trăm kiểu vượt ngục ở Phú Quốc: đánh quân cảnh để đào thoát, chui dưới hàng rào dây thép gai..., phần lớn bị bắt trở lại hoặc bị bắn chết. Họ lên kế hoạch cho cuộc vượt ngục khác, và đã thành công nhờ sự bền bỉ của ý chí và khát vọng tự do.


Muỗng, cà mèn và năm tháng

Image
Một số dụng cụ dùng để đào hầm vượt ngục của tù binh ở Phú Quốc - Ảnh: L.Điền

Biết rằng chỉ một lần vượt ngục không thành là cầm chắc cái chết trong tay, nhưng các tù binh Phú Quốc vẫn quyết định tổ chức một cuộc đào thoát. Tham gia chiến dịch đào hầm vượt ngục toàn các tử tù. Trong số những người đào hầm vượt ngục tại trại A5 ngày ấy hiện còn sống ở TP.HCM có ông Nguyễn Văn Năng.
Ông Năng kể: “Sau khi tôi về khu A5, anh em tổ chức đào hầm. Khu trại A5 trước đó đã có một lần đào hầm vượt ngục nhưng bị lộ, lần này có 40 người tham gia. Trong đó chia thành từng nhóm bốn người lần lượt đào hầm, nếu chẳng may kế hoạch bị bại lộ thì anh em chỉ mất bốn người đầu tiên. Bốn người đầu tiên được phân công lãnh trách nhiệm là Nguyễn Văn Năng, Trần Xuân Việt, anh Mạnh (đã hi sinh ở đảo) và anh Năm (đang ở Đà Nẵng)”.

Nhật ký của cựu tù Nguyễn Văn Năng ghi rõ: “Bắt đầu từ ngày 25-1-1971, mở miệng hầm ở cuối phòng số 8, ngoài vỉa hè”. Bốn người chịu trách nhiệm mở miệng hầm là Thắng, Thuần, Tuấn và Tư đã chuẩn bị cho miệng hầm rất công phu: dùng cơm trộn với xà phòng, đất sét làm hộc miệng, dùng gỗ vạt nằm làm miệng và nắp hầm.

Từ miệng hầm, đào sâu xuống 1,5m. Trước khi bắt tay đào hầm, mọi người đã nghiên cứu kỹ bối cảnh của khu trại A5: bên ngoài có nhiều lớp rào, có quân cảnh đi tuần. Bốn góc khu trại có bốn chòi canh của quân cảnh trực gác.

Lớp rào ngoài cùng có quăng kẽm gai bùng nhùng. Ngoài lớp rào bùng nhùng này là trảng cỏ tranh rộng 100m, sau khoảng cỏ tranh đó là bìa rừng. Rừng Phú Quốc có cây to, chủ yếu là kiền kiền, bằng lăng.

Cuộc đào thoát với sự tính toán rất công phu. Anh em đào hầm chia ra thành nhiều tổ: tổ cảnh giác, tổ giấu đất, tổ đào. Các tổ làm việc cật lực trong điều kiện bí mật tuyệt đối. Tổ giấu đất có nhiệm vụ nặng nề, phải giấu cho được khối lượng đất đưa lên từ 30m đoạn đường hầm ban đầu.

Chiều sâu ban đầu là 1,5m, nhưng độ sâu này chỉ đào đến 30m. Sau đó đào cạn hơn. Đào hầm có nhiều kỹ thuật, ông Nguyễn Hữu Minh nhớ lại: "Đầu tiên chúng tôi ngắm hướng đào theo hàng rào cho thẳng, sau đó phải kiếm cây gỗ làm một cái thang rộng bằng đường kính lòng hầm, đào tới đâu kéo theo cái thang tới đó. Dụng cụ đào hầm chỉ là những đồ dùng sinh hoạt do tù binh tự làm như muỗng, ca, ấm, cà mèn... Đoạn đường hầm dài 120m, anh em tù ở phân khu A5 đào suốt năm tháng”.

Ngày 5-5-1971, đường hầm đã gần xong, chi bộ của khu trại A5 họp xem xét ai nằm trong danh sách vượt ngục, hàng trăm người xung phong, nhưng cuối cùng gút lại 28 người. Đến ngày 11-5-1971, một ngày trước khi vượt ngục, danh sách gút lại là 27 người. Đúng 9 giờ đêm 12-5-1971, 27 người tù lặng lẽ xuống hầm.

“Lúc đó, cả đoàn trườn đi như rắn, như những chiến sĩ đặc công trong giờ xung trận. Tổ đi đầu phải chuẩn bị cây chống hàng rào, cây móc để treo hàng rào, các cọng thép để chốt các loại mìn, trái sáng, lựu đạn địch gài ở mỗi lớp rào mà ta chạm phải”, ông Năng kể.

“Ra đến trảng cỏ tranh, ngước lên thấy trời đêm đen đặc, gió thổi mát, cảm giác trong người lại như bị ngộp, một phần vì quá mừng, nghẹt thở, khớp cả hai chân không đi được. Cả đoàn dừng tại trảng cỏ tranh 5 phút rồi mới cắt đường chạy vào bìa rừng”, ông Năng nhớ lại giây phút được tự do.

Luồn rừng ròng rã ba ngày thì gặp được du kích Dương Tơ. Đến tháng 6-1972 họ mới được đưa về đất liền tiếp tục chiến đấu. Mãi sau này họ mới biết do địch không phát hiện được đường hầm ngay, nên tối hôm sau (13-5-1971) một số anh em tù ở trại B5 gần đó chui qua “đi ké” 15 người, bị bắn chết hai người, 13 người thoát được.

"Tôi là người cộng sản"

Câu chuyện của ông Nguyễn Dương Kế vượt ngục hết sức éo le. Ông Kế ra Phú Quốc ngày 31-1-1969, ở phân khu Đ5. “Đầu năm 1971, chi bộ khu Đ5 tổ chức đào ba hầm để vượt ngục. Đến tháng 7-1971, hầm ngắn nhất đã gần xong thì một người tù tên Nguyễn Văn Biên bị phát hiện là chiêu hồi cài vào. Đảng bộ trại Đ5 họp khẩn cấp và đi đến quyết định phải thủ tiêu Biên để giữ an toàn cho anh em vượt ngục. Thủ tiêu Biên thì phải có người ra nhận tội để giữ bí mật cho anh em. Tôi tuy không tham gia nhóm loại Biên nhưng để anh em sống, tôi xung phong đứng ra nhận để chết thay cho anh em”, ông Kế kể.

Địch tra tấn ông Kế hết sức dã man, tra tấn xong chúng vứt ông vào chuồng cọp, rồi về biệt giam A2. Đến ngày 14-12-1971, ông Kế bị đưa về Cần Thơ và đưa ra trước tòa án binh vùng 4 chiến thuật, tuyên án tử hình. Trước ngày bị đưa ra pháp trường, ông Kế tổ chức vượt ngục.

Ông Kế nhớ lại: “Chuyến vượt ngục cực kỳ mạo hiểm. Bốn người tù chúng tôi bấm tay nhau quyết tâm: về với đồng đội, dù chỉ một người cũng thành công. Lợi dụng đêm tối, chúng tôi dùng sắt khoét nền nhà giam, sau đó moi đất chui dưới hàng rào bùng nhùng, qua được lớp rào bùng nhùng, móc đất trát kín cả người và bò ra mỗi người một hướng. Tôi ra tới bờ sông Bình Thủy thì nằm lại, mãi đến chiều 21-12 lần mò ra sông Hậu thì gặp lại hai anh Long và Pha. Sau này mới biết anh Đào, người tù thứ tư, đã bị bắt trở lại. Biết quân giải phóng ở đâu mà tìm”.

Ba người tử tù lần mò theo hướng có tiếng súng để tìm đồng đội, đến đêm 23-12 mới tới xã Mỹ Thuận A, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

“Du kích xã và bộ đội địa phương đã chống càn quyết liệt bốn ngày, nhưng cũng vừa rút, do đó tôi và hai đồng đội lại lần mò theo dấu chân du kích đi theo đường mòn bí mật, đi mãi cuối cùng khi ngẩng mặt lên thì thấy một anh du kích đang ngồi ăn cơm! Sau khi nghe anh em trình bày sự việc, anh em du kích hết sức bất ngờ. Họ đưa chúng tôi về tỉnh đội Vĩnh Long. Sau bao năm tháng ngục tù, gặp lại đồng đội, đồng chí, ai cũng rơi nước mắt vì sung sướng. Vậy mà khi du kích chống xuồng đưa chúng tôi về tới huyện thì cán bộ an ninh huyện ập vào gí súng tuyên bố bắt giam chúng tôi. Không ai có thể tin ba tù binh từ đảo Phú Quốc xa xôi lại có thể được đi máy bay vào Cần Thơ rồi vượt ngục ra với cách mạng. Tất cả đều nghi ngờ ba chúng tôi là gián điệp địch cài vào vùng giải phóng”, ông Kế hồi tưởng.

Ông kể: “Có lần khi nghe tôi nói đi nói lại về tình huống vượt ngục và cách tôi tìm ra đường để vào khu du kích, anh Tư Tứ - người phụ trách thẩm vấn - nói nếu không có ai đó chỉ đạo, việc đó chỉ có Khổng Minh mới làm được, khai thiệt đi để khoan hồng. Tôi đang bị xích tay còng chân nhưng vẫn phản đối: Tôi là người cộng sản, anh không phải là cộng sản nếu anh nói việc tôi kể là chỉ có Khổng Minh mới làm được. Bác Hồ đã nói không có việc gì khó, nếu anh là cộng sản thì phải hiểu rằng chỉ có làm hay không làm thôi, khi quyết tâm làm thì việc gì làm cũng được. Anh Tư Tứ im lặng”.

Khi việc xác minh hoàn tất, du kích quân Vĩnh Long tin ba người tù binh đúng là những chiến sĩ cách mạng, họ đã đưa các anh vào đơn vị chiến đấu cho đến ngày thống nhất đất nước.

Chị Trần Thị Tròn, phó bí thư thường trực Đảng ủy thị trấn An Thới (Phú Quốc), cho biết gần như mỗi ngày đều có vài đoàn khách trong và ngoài nước đến tham quan khu di tích trại giam tù binh Phú Quốc. Nhiều người đến đây, nhìn các hiện vật, nghe kể về tội ác của các cai ngục đối xử với tù binh đã không cầm được nước mắt. Khu di tích giờ đây không còn nguyên vẹn, bởi sau chiến tranh người ta đã san bằng toàn bộ khu trại giam như cố quên đi những nỗi kinh hoàng một thời của nó.

LAM ĐIỀN - VŨ BÌNH
Theo Tuổi Trẻ

Người tù đứng lên

Details
Nhà tù Phú Quốc
07 November 2007
Hits: 4000

Khắc nghiệt, tàn bạo đến tận cùng. Nhưng các tù binh Phú Quốc vẫn tồn tại trong tư thế người lính. Những cuộc đấu tranh của tù binh Phú Quốc với nhiều cách thức đã diễn ra.

Những ngày tuyệt thực

Đến năm 1971, tù binh các nơi được đưa về Phú Quốc ngày càng nhiều, tù binh sĩ quan bị giam riêng một khu được gọi là phân khu số 7, đông đến 900 người.

Ông Nguyễn Văn Đồng, tù binh phân khu A4, kể: “Để phản đối sự đàn áp của quân cảnh giám thị, phân khu sĩ quan đồng loạt đấu tranh tuyệt thực. Đến ngày thứ chín, các khu xung quanh nổi dậy đấu tranh hỗ trợ, đòi giải quyết cho khu sĩ quan. Tù binh đưa ra ba yêu sách chính: không đánh đập tù binh; cải thiện chế độ ăn uống, phải đủ ăn, đủ nước; không đi làm tạp dịch. Nhưng tôi tuyệt thực đã gần 10 ngày rồi mà quân cảnh vẫn làm ngơ, chắc chúng muốn các sĩ quan tuyệt thực đến chết để không còn người chỉ huy trong trại tù binh. Vì thế chúng tôi chủ trương phải có hình thức đấu tranh mạnh mẽ hơn, bạo liệt hơn và sẵn sàng chấp nhận hi sinh mới mong được kết quả. Khi ấy hầu hết các phân khu đều đồng loạt tuyệt thực, quân cảnh càng thách thức hơn, vào trại bắn chết một tù binh đang tuyệt thực. Anh em phẫn nộ, khiêng người tù bị bắn chết ra để trước sân, xé chân mùng vải trắng, lấy máu viết khẩu hiệu “Cực lực phản đối bọn ác ôn tàn sát anh em tù binh”. Tôi quyết định mổ bụng để phản đối”.

Câu chuyện đã xảy ra hơn 30 năm, song ông Đồng vẫn còn nhớ như in, ông vén bụng lên cho chúng tôi thấy những vết sẹo chằng chịt: “Lúc tôi ngã xuống, anh em đưa tôi lên phòng giám thị, giám thị không những không cứu chữa mà còn lấy lưỡi lê xăm nát cả bụng tôi và nói “để coi lá gan nó to cỡ nào”...

Bên ngoài, tù binh hay tin đều vùng dậy và hô to phản đối vì họ biết quân cảnh muốn thủ tiêu tôi và họ tràn vào phòng giám thị đưa tôi về trại để cứu chữa”. Sáng hôm sau, thấy tình thế bất lợi với hàng chục tù binh khác đang sẵn sàng mổ bụng tự sát, quân cảnh đem loa xuống thông báo chấp nhận tất cả các yêu sách của tù binh.

Image
Cựu tù Nguyễn Văn Đồng: “Tôi đã quyết định mổ bụng để phản đối” - Ảnh: Lam Điền

Tháng 9-1972, lại thêm ba tù binh quyết định mổ bụng tự sát để đòi 11 yêu sách cải thiện chế độ lao tù. Tù binh Nguyễn Rồi bị bắt năm 1968 khi đang là cán bộ huyện Hòa Vang (Quảng Nam).

Trước khi quyết định mổ bụng tự sát, chi bộ nhà tù đã tổ chức lễ kết nạp Đảng, đồng thời làm lễ truy điệu cả ba người (anh Trác ở Bình Định và anh Phúc ở Thừa Thiên – Huế). Cả ba người đứng trước cửa nhà giam mổ bụng bằng cán cà mèn sắt mài nhọn, vết thương của anh Rồi rất nặng, đứt cả ruột; anh Trác và anh Phúc do yếu sức nên vết mổ chỉ làm rách bụng.

Cả nhà tù nhốn nháo, quân cảnh ào vào nổ súng uy hiếp. Khiếp sợ trước tinh thần ngoan cường của tù binh, giám thị trại giam buộc lòng chấp nhận cả 11 yêu sách và đưa các anh đi cấp cứu.

Cuộc chiến đấu mới


Năm 1969 đến với tù binh Phú Quốc bằng cột mốc ngày 8-3 với huấn thị số 979 của chính quyền Sài Gòn tiến hành “chuyển hướng tư tưởng và phân loại tù binh cộng sản”. Điều bất ngờ đối với chính quyền Sài Gòn là chính kế hoạch khủng bố tư tưởng và đàn áp tù binh bằng thủ đoạn mới này lại châm ngòi cho hàng loạt cuộc đấu tranh cả công khai trực diện lẫn bí mật.

Tù binh Phú Quốc được phân loại theo quê quán và cấp bậc: chiến sĩ quê miền Nam và chiến sĩ quê miền Bắc giam riêng; hạ sĩ quan quê miền Nam và miền Bắc, sĩ quan quê miền Nam và miền Bắc giam riêng nhằm cô lập làm suy yếu sự đoàn kết, tiếp sức nhau trong các cuộc đấu tranh của tù binh.

Thế nhưng, ngay từ đầu năm 1969, các tù binh Phú Quốc đã tiến hành thành lập cơ sở Đảng trong nhà giam. Cựu tù Trần Văn Kiêm là chứng nhân của sự kiện quan trọng này: “Nhờ có nhiều đảng viên biết nhau từ trước, đã từng liên lạc hoặc tập hợp thành tổ chức đảng ở các trại giam vùng chiến thuật nên việc hình thành tổ chức đảng có cơ sở thuận lợi”.

Tù binh Phú Quốc tiến hành tập hợp đảng viên bằng hình thức xâu chuỗi, những đảng viên ở đất liền ra cùng với các đảng viên được kết nạp trong tù ở các phân khu khác nhau bí mật liên lạc và tập hợp lại.

Tiêu chuẩn của người đảng viên trong tù Phú Quốc được đa số thống nhất là tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, thể hiện ở tinh thần chống địch, nhất là chống cưỡng ép chiêu hồi, luôn đi đầu trong các cuộc đấu tranh.

Từ năm 1969, vì thấy khí thế đoàn kết trong tù binh lên cao, ban cai quản trại giam cài cắm một số tay sai làm các bộ phận trật tự trong tù nhằm nghe ngóng tình hình, nắm bắt các ý định đấu tranh của tù binh để báo cáo.

Tuy nhiên, đến cuối năm 1970, tù binh ở phân khu B2 đã đấu tranh “lật mặt”. Công tác diệt mật báo được đảng bộ tù binh chú ý từ khi ban cai quản trại giam lập khu tân sinh hoạt - tức nơi dành cho những tù binh chiêu hồi, các thành phần chiêu hồi được cài cắm trở lại nằm trong tù binh để chiêu dụ, thuyết phục chiêu hồi, đồng thời báo cáo lại thành phần lãnh đạo của các tổ chức Đảng đang nhen nhóm để địch có cơ sở khủng bố.

Đây là cuộc đấu tranh quan trọng vì phải đấu tranh với chính tù binh ngay trong lòng tù binh. Tại phân khu D5, vào tháng 3-1971, các tù binh phát giác một người mật báo tên Biên được đối phương cắm sâu trong hàng ngũ tù binh.

Biên “nằm im” với tù binh đến nỗi toàn bộ kế hoạch đào hầm vượt ngục của tù binh đều biết hết. Nhưng đến khi Biên viết danh sách tên người chuẩn bị vượt ngục vào một tờ giấy và ném ra hàng rào cho quân cảnh thì các tù binh phát hiện.

Sự kiện tù binh bắt sống hai quân cảnh để phản đối dẫn đến cuộc tàn sát tù binh vào tháng 5-1972 ở phân khu B8 đã làm chết và bị thương 140 người. Đây được xem là cuộc tàn sát lớn nhất ở Phú Quốc.

Những cuộc đấu tranh của tù binh với mục đích đòi đối xử theo công ước quốc tế về tù binh thường phải trả giá bằng cả mạng sống của mình. Tuy nhiên, sau nhiều đợt đứng lên như vậy, đời sống của tù binh được cải thiện phần nào.

Theo ghi nhận của nhiều cựu tù còn sống sót, sau nhiều đợt đấu tranh trực diện công khai, ban cai quản trại tù đã nhân nhượng, duy trì chế độ “cơm đủ ăn, nước đủ uống và thức ăn có rau tươi, cá tươi” cho tù binh.

 

LAM ĐIỀN - VŨ BÌNH
Theo Tuổi Trẻ

Địa ngục trần gian

Details
Nhà tù Phú Quốc
07 November 2007
Hits: 7928

 

Image
Tháp canh nhà tù Phú Quốc

Hàng chục ngàn tù binh trên khắp các chiến trường, nhất là sau Tết Mậu Thân, đã bị đưa ra trại tù binh Phú Quốc. Dù đã trải qua hàng loạt nhà tù, hàng loạt sự tra tấn đớn đau, trên một chiến hạm hay phi cơ quân sự đưa ra đảo Phú Quốc, họ bị quăng vào tận cùng của sự tàn bạo giữa biển khơi.

Ông Nguyễn Hữu Minh nhập ngũ tại Nghệ An từ tháng 4-1959, sau đó vào Nam chiến đấu ở đơn vị đặc công rừng Sác. Ông kể: “Tôi đã bị bắt làm tù binh một lần vào năm 1967. Khi đó tôi là lính của đoàn 10 - đặc công rừng Sác, nhân lúc lính gác sơ hở tôi lao xuống sông trốn thoát và trở về đơn vị tiếp tục chiến đấu. Đầu năm 1969, khi tôi đang làm đại đội phó đại đội trinh sát của đoàn 10, trong một lần đi lấy nước cho đơn vị, tôi bị địch bắt đưa về Nhà Bè, tra tấn rất dã man, tưởng chết. Hết Nhà Bè rồi Chí Hòa, Hố Nai, chết đi sống lại tôi vẫn không khai, thế là tôi bị đưa ra đảo Phú Quốc vào tháng 7-1969. Tưởng đã trải qua những khủng khiếp nhất của “địa ngục trần gian”, nhưng khi ra Phú Quốc mới thấy các nhà tù khác chưa là gì cả, đó mới chính là tầng sâu thẳm nhất của địa ngục”.

Bố phòng khắp đảo

Trại giam tù binh Phú Quốc thuộc xã Dương Tơ (nay là An Thới), được Mỹ và chính quyền Sài Gòn xây dựng đầu năm 1967. Toàn bộ khu trại rộng khoảng 400ha, tên thường gọi là nhà lao Cây Dừa.

Từ thời nhà Nguyễn, Phú Quốc rất thưa thớt cư dân, đó là nơi trú ngụ của hải tặc trên vịnh Thái Lan. Đảo có chiều dài 50km, chiều rộng 28km, cách đất liền (Rạch Giá) 120km. Trước năm 1945, dân số Phú Quốc chỉ khoảng 6.000 dân, vậy mà từ khi nhà tù được lập ra, lúc cao điểm lượng tù binh lên đến hơn 40.000 người.

Trại giam Phú Quốc được bố phòng rất nghiêm ngặt. Nhiều tù binh ví rằng “đến con ruồi muốn bay ra khỏi đảo cũng là chuyện không thể” vì ngoài bốn tiểu đoàn quân cảnh trực tiếp canh giữ tù binh và lực lượng của bộ tư lệnh vùng 4 hải quân đặt ngay ở An Thới, nhiều đại đội cảnh sát, bảo an bố phòng khắp đảo và trên biển còn có lực lượng đặc nhiệm 41 và các duyên đoàn tuần tra ngày đêm từ An Thới, Nam Du, Hòn Tre, Bắc Đảo cho đến ven biển Rạch Giá, Hà Tiên...

Image
Thùng sắt dùng để nhốt tù binh tại Phú Quốc - Ảnh: VŨ BÌNH

Với các tù binh, nguy hiểm nhất là lực lượng quân cảnh giám thị các phân khu trại giam. Cai tù thường lấy chuyện đánh người làm trò vui. Tất cả tù binh vừa được đưa lên đảo đều bị đánh phủ đầu bằng trận mưa ma trắc và roi cá đuối, chiếc đuôi cá trông mảnh mai như thế mà quất vào người sẽ kéo da thịt lòi ra ngoài và vết thương hằng tháng mới kéo miệng.

Quân cảnh thường dùng cây thước bằng gỗ bắt tù binh nhe răng ra và quất mạnh làm bay cả những cái răng cửa, nếu đòn quá mạnh có thể làm rụng cả hàm, miệng tù binh chỉ còn là một hố đen đầy máu tươi. Hay đau đớn như đòn “lấy mắt cá chân” do thượng sĩ nhất quân cảnh Trần Văn Nhu nghĩ ra: dùng thước gỗ lim đen bóng đi kiểm tra từng hàng và bất thần vung thước xuống đánh bay mắt cá chân tù binh.



“Chuồng cọp”

Đòn tra tấn thường được áp dụng tại đây là cho tù binh vào bao bố cột chặt miệng rồi nhúng vào chảo nước sôi. Đã có hàng chục tù binh bị nhúng nước sôi cho đến chết. Cai ngục còn nghĩ ra “trò chơi lộn vỉ sắt”: bắt tù binh nằm trần truồng trên tấm vỉ sắt quân dụng, trên đó có những móc sắt nhọn chĩa lên và bắt tù binh lăn tròn, thân thể tù binh bị móc sắt rứt từng lóng thịt thấu tới xương. Ông Nguyễn Hữu Minh kể: “Tôi bị đưa lên một chiếc bàn và cho cây gỗ lăn qua lăn lại nát cả thịt da, phơi xương trắng cả ống chân. Xong rồi tôi bị mang bỏ trong “chuồng cọp”.

Image
“Chuồng cọp” là đây! Hơn 30 năm sau, cựu tù Nguyễn Dương Kế trở lại thăm nơi mình đã từng bị tra

“Chuồng cọp” của trại giam Phú Quốc là chiếc lồng bằng kẽm gai tứ phía, chiều cao không đủ để ngồi, chiều dài nằm không duỗi chân được, mỗi chuồng nhốt một người, nằm tênh hênh ngoài trời. Bị nhốt vào đây là một cực hình vì người tù không thể nằm, ngồi hoặc cử động, mỗi cử động nhỏ là kẽm gai đâm thấu xương.

Cai tù nói ít ai chịu nổi cách giam cầm này trong 24 giờ, nhưng nhiều chiến sĩ đã chịu đựng được hàng tuần, hàng tháng trời mà vẫn không khai báo. Lại có hình thức đóng đinh vào đầu, đóng đinh xuyên gan bàn chân, đóng đinh vào đầu gối... mà những người gan lì nhất nghe qua cũng rùng mình.

Theo thống kê của cựu tù Trần Văn Kiêm, có cả thảy 19 hình thức tra tấn tại trại giam Phú Quốc. Trong đó có những kiểu đối xử như với súc vật: luộc tù binh, nướng tù binh, đốt miệng và hạ bộ, đục lấy xương bánh chè, nướng dùi sắt đâm xuyên qua bắp chuối, đổ nước xà bông sôi vào miệng.

Và đến khoảng tháng 9-1970, tù binh Phú Quốc còn chứng kiến một cảnh rợn người: chôn sống hàng chục tù binh tại nghĩa địa đồi 100, trước sự chứng kiến của 25 tù binh từ nhiều phân khu được quân cảnh dẫn đến để “dằn mặt”.

Sự tàn bạo của những hạ sĩ quan quân cảnh trên đảo Phú Quốc luôn là nỗi kinh hoàng ngay chính trong lực lượng quân đội Sài Gòn, những ai đã từng làm quân cảnh giám thị ở Phú Quốc trở về đất liền luôn bị các sắc lính khác xa lánh vì đã đối xử tàn bạo với tù binh.

Trại giam tù binh Phú Quốc có hai nghĩa địa chôn cất tù binh: đồi 100 và đồi 37. Hai nghĩa địa này được phân lô, đánh dấu vị trí an nghỉ của từng người, nhưng đến nay vẫn chưa tìm được bản đồ tổng thể cũng như chi tiết về nơi chôn cất từng người. Tỉnh ủy và UBND tỉnh Kiên Giang đã có chủ trương truy tìm hài cốt tù binh mang về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Phú Quốc (Dương Đông). Tại đồi 100 đã qui tập được 800 hài cốt, còn tại đồi 37 khoảng 20 hài cốt, tổng cộng đã qui tập được 845 hài cốt. Và cho tới nay vẫn chưa có số liệu nào chính xác về tù binh đã ngã xuống tại trại tù Phú Quốc.

(còn tiếp)

LAM ĐIỀN - VŨ BÌNH
Theo Tuổi Trẻ
  1. You are here:  
  2. Home
  3. CHUYÊN ĐỀ
  4. Di tích
  5. Nhà tù Phú Quốc
  6. Địa ngục trần gian
Copyright © 2026 Lịch Sử Việt Nam - Vietnam history. All Rights Reserved. Designed by JoomlArt.com. Joomla! is Free Software released under the GNU General Public License.