Nghĩa trang quốc gia đầu tiên
Con đường nhựa phẳng lì dẫn vào nghĩa trủng Hòa Vang. Nằm lọt thỏm giữa khu dân cư mới ở P. Khuê Trung, Q.Cẩm Lệ (Đà Nẵng), bốn bề nhà cao khuất, nghĩa trủng Hòa Vang là nơi yên nghỉ của hơn 1.200 chiến sĩ yêu nước ngã xuống trong trận đầu đánh Pháp vẫn sum sê hoa lá. Đang vào mùa đơm hoa nên hương từ gốc mù u cổ thụ nằm cạnh khu nghĩa trủng tỏa ra ngào ngạt.
"Chiến sĩ đài"
Ngày trước ở làng Khuê Trung, người biết rõ gốc tích nghĩa trủng này nhất không ai khác ngoài cụ Hương Mưu, nhưng rồi ông cũng như trái mù u chín, đến lúc phải lìa cành. "Bây giờ người biết rõ nhất chỉ còn ông Tế mà thôi", một cán bộ phụ trách văn hóa ở quận Cẩm Lệ bảo. Năm nay đã bước qua tuổi 80 nhưng xem ra ông Huỳnh Ngọc Tế vẫn còn minh mẫn lắm. "Đây là cây mù u duy nhất còn sót lại ở làng Hóa Khuê. Một minh chứng cho lòng trung kiên", ông Tế chỉ vào gốc mù u tỏa bóng một góc nghĩa trủng bồi hồi nhớ lại.
Năm 1866, tức tám năm sau khi Pháp nổ súng đánh Đà Nẵng, xét thấy cảnh nhiều mồ mả của các tử sĩ mình chôn cất quá tạm bợ, lại rải rác khắp muôn nơi, vua Tự Đức liền ra chiếu dụ và cấp tiền cho xây dựng "Hòa Vang nghĩa trủng". Theo ông Huỳnh Ngọc Tế, ban đầu nghĩa trủng Hòa Vang được lập ngay tại xứ Trũng Bò thuộc làng Nghi An, vốn là nơi hạ trại của đại quân triều Nguyễn trước đó (nay là P.Hòa Phát, Q.Cẩm Lệ).


