Sidebar

  • TRANG CHÍNH
  • LƯỢC SỬ TÓM TẮT
  • CHUYÊN ĐỀ
  • CỔ SỬ
  • THƯ VIỆN
  • ẢNH LỊCH SỬ
Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history
  • TRANG CHÍNH
  • LƯỢC SỬ TÓM TẮT
  • CHUYÊN ĐỀ
    • Nhân vật
    • Sự kiện
    • Hiện vật
    • Di tích
    • Hồi ký
  • CỔ SỬ
    • Đại Việt sử ký toàn thư
    • Huyền sử, dã sử
  • THƯ VIỆN
  • ẢNH LỊCH SỬ
    • Việt Nam triều Nguyễn

Cách mạng Tháng Tám

Cách mạng Tháng Tám

OSS (Mỹ) - Đồng minh trong cuộc kháng chiến chống Nhật

Details
Cách mạng Tháng Tám
20 August 2007
Hits: 5862

 

Image

Có lẽ ít người biết được rằng Hồ Chủ tịch và lực lượng Việt Minh đã từng có mối quan hệ với nước Mỹ, cụ thể là Cơ quan Tình báo chiến lược Mỹ (OSS) - tiền thân của CIA - nhằm củng cố thêm sức mạnh cho Việt Nam trong thời kỳ giành chính quyền những ngày đầu.

Cuốn sách "OSS và Hồ Chí Minh - Đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật" của giáo sư Dixee R. Bartholomew-Feis do NXB Trường đại học Kansas (Mỹ) xuất bản năm 2006, được NXB Thế Giới và Công ty văn hóa và truyền thông Võ Thị dịch và xuất bản tại VN tháng 8-2007. Đây là một tư liệu mới của Mỹ lần đầu tiên được giới thiệu tại VN - một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nhất về lịch sử quan hệ Việt - Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ hai...

 

Nền móng đầu tiên

Sau khi đảo chính Pháp, Nhật dàn xếp một cấp độ kiểm soát mới tại VN. Người VN tìm cách thoát khỏi tình trạng cùng khổ, và ở miền Bắc, một vị cứu tinh hợp lý - Việt Minh - đang giành được động lực thúc đẩy tiến trình phát triển.

Nhiệm vụ của Cơ quan Tình báo chiến lược (OSS) tại châu Á lúc đó là nhằm đánh bại phát xít Nhật, do đó các nhân viên OSS buộc phải tuyển mộ đặc tình, sau đó là các nhóm vũ trang quân sự dưới sự bảo trợ của OSS rồi phái họ trở lại khu vực này. Vì vậy đường lối của hai dân tộc Việt và Mỹ gặp nhau trong một thời khắc ngắn ngủi - một thời khắc vừa nguy hiểm lại vừa đầy hứa hẹn đối với tương lai của cả hai nước....

Đến Việt Nam

Vào ngày 2-11-1944, trong một chuyến trinh sát, trung úy Shaw - một phi công Mỹ - buộc phải đáp xuống vùng ven Cao Bằng. Trong cuốn Từ Côn Minh về Pắc Bó, Vũ Anh (bí danh Trịnh Đông Hải), một nhà tổ chức của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Côn Minh và Việt Bắc, nhớ lại: “Một hôm, tại Cao Bằng, một tổ chức cứu quốc đã cứu sống một viên phi công Mỹ đáp xuống lãnh thổ của chúng ta do trục trặc động cơ.

Anh là trung úy Shaw. Pháp và Nhật đang truy tìm anh, nhưng các nhà cách mạng đã bảo vệ anh, đưa anh tới phòng làm việc của ông Phạm Văn Đồng tại vùng Nước Hai. Ông Phạm Văn Đồng đưa anh tới gặp Bác Hồ. Shaw được đón tiếp chu đáo và rất vui khi gặp Bác. Anh nói rằng anh đã nghe những lời tuyên truyền bị bóp méo liên quan đến Việt Minh, và chỉ đến lúc đó anh mới nhận ra sự thật”.

Sau này Shaw mới khám phá nhiều điều khác về Việt Minh. Khi còn ở Côn Minh (Trung Quốc), Shaw đã công bố một số thông tin, trong đó có một quyển sách nhỏ dạng nhật ký có tựa đề Một Đông Dương thực sự dưới con mắt trung úy Shaw.

Shaw kể rằng: “Ngay khi tôi chạm đất, một người Đông Dương trẻ tuổi bước tới mỉm cười, thân mật bắt cả hai tay tôi và ra hiệu tôi đi theo anh ta. Tôi đưa cho anh ta 600 đồng Đông Dương. Anh ta nhất quyết không nhận tiền và trông có vẻ bị xúc phạm. Tôi rất ngạc nhiên với thái độ của anh ta và nghĩ có lẽ anh ta cho rằng ngần ấy tiền chưa đủ. Đó là một sai lầm lớn của tôi! Lúc đầu tôi nghĩ họ là những kẻ tham lam, nhưng trên thực tế hầu hết những người yêu nước Đông Dương lại rất đức độ. Họ giúp chúng tôi không phải vì tiền của chúng tôi, mà vì tình yêu thương và tình bằng hữu. Họ biết rằng chúng tôi đang chiến đấu không chỉ vì nước Mỹ mà còn vì tự do và dân chủ của thế giới, và cũng vì đất nước của họ nữa. Vì lý do đó mà họ coi bổn phận yêu nước của mình là giúp đỡ chúng tôi - những đồng minh của họ”.

Mười ngày sau, Shaw nhận được lá thư từ Ủy ban Trung ương Việt Minh chào mừng anh và thông báo: “Chúng tôi đã ra lệnh cho căn cứ địa của chúng tôi tại Cao Bằng tiến hành tất cả các biện pháp cần thiết để bảo vệ tính mạng ngài và hộ tống ngài ra biên giới Bắc kỳ - Trung Quốc”. Ủy ban Trung ương đề nghị Shaw giúp xây dựng tình hữu nghị vững mạnh giữa Mỹ và Việt Nam.

Ngoài ra, cuốn sách cũng tiết lộ nguồn gốc và mục đích của Việt Minh cũng như vị trí của họ trong mối quan hệ với Đồng Minh: “Việt Minh hùng mạnh thế nào, tôi không biết. Nhưng như những gì tôi đã chứng kiến thì tổ chức này rất được nhân dân ủng hộ. Đi đến đâu tôi cũng được dân làng chào với hai tiếng “Việt Minh! Việt Minh!” và họ làm tất cả để giúp những người yêu nước, cho dù có bị ngăn cấm và đàn áp”.
Shaw kể: “Tháng mười hai, những người bạn Đông Dương đưa tôi trở về Trung Quốc. Trước khi chia tay, họ dặn đi dặn lại tôi phải gửi lời chào tốt đẹp nhất của họ tới quân đội và nhân dân Mỹ. Tôi rất vui khi được quay trở lại và kể với đất nước tôi về tình hình thực tế tại Đông Dương... Tôi khiêm nhường nghĩ rằng vì nhiệm vụ dân chủ cũng như vì lợi ích chiến lược, chúng ta phải giúp đỡ phong trào chống Nhật, chống phát xít của Đông Dương một cách có hiệu quả”.

Những người bạn

Image
Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhà lãnh đạo Võ Nguyên Giáp (đứng thứ ba và thứ năm từ trái qua) chụp ảnh với những người bạn Mỹ. Chỉ huy đội Hươu của OSS là Allison Thomas (đứng thứ tư từ trái qua) - Ảnh tư liệu

Ngày 20-3, Wedemeyer - tư lệnh quân Mỹ tại mặt trận Trung Quốc - đã phê chuẩn QUAIL, một chiến dịch lớn tại Đông Dương, để “thiết lập những mạng lưới tình báo quân sự và cho phép chúng ta cấp vũ khí và đạn dược cho những ai kháng Nhật”. Ngày 13-4, Archimedes Patti, một cựu chiến binh của OSS trong các chiến dịch Ý, từ Washington tới đảm nhận chức vụ lãnh đạo phái đoàn OSS tại Đông Dương. Khi Patti bắt đầu tìm hiểu nơi ở của Hồ Chí Minh thì hai thành viên khác của OSS là Frank Tan và Mac Shin đang ở Tĩnh Tây, chuẩn bị cho chuyến đi hai tuần qua biên giới xuống phía nam Đông Dương, vào VN để đào tạo một nhóm du kích Việt Minh.

Hồ Chí Minh đã đi trước hai người này và ra lệnh cho 20 người của mình quay lại hộ tống và bảo vệ họ trước quân Nhật. Hồ Chí Minh đã cùng đi với họ trong chặng cuối của cuộc hành trình tới Việt Bắc. Khi mọi người đã qua biên giới an toàn, cả nhóm tiếp tục đi tới căn cứ của Việt Minh tại Tân Trào.

Chặng này nhóm có đông người hơn. Hồ Chí Minh, Tan (người mà Việt Minh gọi là Tam Xinh Shan để che giấu danh tính của ông) và Shin (bí danh là Nguyễn Tư Tác) nhập cùng những thành viên khác của Việt Minh, gồm năm nhân viên điện đài vừa hoàn thành khóa học tại Trung Quốc, mười học viên điện đài cho công tác tình báo, sáu người mang máy phát tín hiệu truyền thông, mười vệ sĩ - phần lớn trong số họ đã được huấn luyện kỹ tại Gio Jio và đang ở cấp bậc trung úy, được trang bị tiểu liên và súng cacbin và một nhóm thanh niên được tuyển chọn riêng để học điều khiển điện đài tại Tân Trào.

Khi cả nhóm đến Tân Trào, Hồ Chí Minh đưa cho Tan một bản báo cáo cuộc hành quân được đánh máy với nhiều chi tiết về địa thế hiểm trở, những mối nguy hiểm khi hành quân ban đêm, hệ thống quân thám và phu khuân vác phức tạp dọc đường, những động vật hoang dã gặp phải... Và, giống như Shaw, Tan cũng bị chinh phục khi trò chuyện tới khuya với con người có sức lôi cuốn quần chúng này qua rất nhiều đêm ở bên nhau trong những khu rừng đại ngàn Bắc Việt Nam.

Frank Tan và Mac Shin ở Tân Trào gần bốn tháng. Trong những tháng làm việc bên nhau, Hồ Chí Minh và Tan đã có một tình bạn đặc biệt thân thiết. Cả hai đều đã trải qua sự phân biệt đối xử tại quê nhà - Hồ Chí Minh dưới ách thống trị của Pháp và Tan là người Hoa lớn lên trong khu vực toàn “người da trắng” tại Boston. Tan hồi tưởng: “Khi quan hệ của tôi với Hồ Chí Minh trở nên thân thiết hơn, tôi bắt đầu hiểu rõ con người ông - một người hiến dâng cả cuộc đời để giành lại tự do cho nhân dân mình. Một sự hi sinh như thế khiến ông chẳng làm gì khác ngoài nghĩ và hành động cho một mục tiêu duy nhất”.

 

Chống kẻ thù chung

Vương Minh Phương, một cán bộ Việt Minh sống tại Côn Minh (Trung Quốc), đã gọi điện cho Archimedes Patti vào giữa tháng 4-1945. Trong cuộc nói chuyện với Patti, Phương mô tả Việt Minh là một mặt trận chính trị và cũng là một “lực lượng vũ trang, được tổ chức thành các đơn vị du kích và tích cực hoạt động trong cuộc kháng chiến chống Nhật”.
Phương cam đoan với Patti rằng Việt Minh sẵn sàng chiến đấu sát cánh bên người Mỹ chống lại kẻ thù chung.

 

Những ánh mắt mới

Image
Thiếu tá Allison Thomas (thứ tư từ phải sang) đứng quan sát những chiến sĩ Việt Minh tập ném lựu đạn ngày 17-8-1945 - Ảnh tư liệu

Sau khi nghe Vương Minh Phương kể nhiều về quá trình lịch sử của Việt Minh và tin tưởng vào năng lực tiềm tàng của Việt Minh, Archimedes Patti có một yêu cầu: ông muốn gặp cụ Hồ Chí Minh. Khi Patti và Phương gặp nhau lần thứ hai, Phương nói với Patti là anh đã gửi thông điệp tới cụ Hồ Chí Minh và đã bố trí một cuộc gặp tại thị xã biên giới Tĩnh Tây.

Cuối tháng tư, Patti rời Côn Minh, kết hợp chuyến đi đến các đơn vị của OSS đóng quân dọc theo biên giới Trung Quốc với chuyến thăm Tĩnh Tây. Sau khi làm các thủ tục với người trung gian là một đảng viên cộng sản Trung Quốc, cụ Hồ Chí Minh và Patti cuối cùng đã gặp nhau tại một hiệu ăn nhỏ bên đường vào ngày 27-4-1945. Ngay từ đầu hai người đã có thiện cảm với nhau. Mặc dù từ những nền tảng hoàn toàn khác nhau nhưng hai ông đều có chung nhiều đặc điểm: cả hai đều có, theo đánh giá của nhiều người, một trí tuệ sắc bén và cả hai đều biết làm chủ tình thế. Patti vô tình nói ra những câu mà theo bản năng ông biết rõ sẽ thu hút sự chú ý của cụ Hồ Chí Minh: “Tôi rất hài lòng khi được gặp một người có nhiều bạn bè Mỹ tại Côn Minh”. Cụ Hồ Chí Minh kể vắn tắt một danh sách dài những mối bất bình đối với chủ nghĩa thực dân Pháp và cho Patti xem một loạt ảnh các nạn nhân nạn đói năm 1945. Sự đồng cảm của Patti đối với người Việt Nam và thái độ coi thường đối với người Pháp tăng lên. Ông không biết mình đã phản ánh phần lớn tình cảm của hai người Mỹ đầu tiên đã từng có mối giao thiệp rộng rãi với cụ Hồ Chí Minh là Frank Tan và Charles Fenn. Chẳng bao lâu sau họ cùng nhiều người Mỹ khác gia nhập hàng ngũ những người khâm phục cụ Hồ Chí Minh.

Giữa tháng sáu, trung úy Dan Phelan nhảy dù xuống khu căn cứ của Việt Minh, nơi anh ta sẽ ở lại trong vài tháng. Sau khi hạ cánh, Phelan được Tan đón rồi đưa tới Tân Trào giới thiệu với cụ Hồ Chí Minh, ông Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ Việt Minh quanh căn cứ. Trong suốt thời gian ở cùng Việt Minh, Phelan say mê những cuộc nói chuyện dài với cụ Hồ Chí Minh. Một thời gian sau, Phelan, cũng như Fenn, Tan và Patti bắt đầu nhìn Việt Minh bằng ánh mắt mới. Một tuần sau khi đến căn cứ của Việt Minh, Phelan gửi một bức điện với giọng điệu rõ ràng đã khác về đại bản doanh: “Các ngài đang hiểu lầm quan điểm của Việt Minh. Họ chỉ là những người yêu nước, những người xứng đáng được tin tưởng và ủng hộ hoàn toàn”.

Tiếp tục chiến đấu

Mùa xuân năm 1945, OSS điều thiếu tá Allison Thomas tới Trung Quốc, bắt đầu hoạt động với tư cách là chỉ huy đội SO số 13, mật danh là đội Hươu. Thượng tuần tháng sáu, cụ Hồ Chí Minh thông báo cho Patti rằng hiện Việt Minh có khoảng 1.000 chiến sĩ du kích “được huấn luyện tốt” sẵn sàng để Patti sử dụng cho “bất cứ kế hoạch nào” để chống Nhật. Ngày 16-7, Thomas nhảy dù xuống khu vực lân cận làng Tân Trào cùng hai thành viên người Mỹ trong đội của anh là Prunnier và Zielski. “Ủy ban đón tiếp” của Việt Minh đưa ba người xuống đất. “Mọi người thật sự hứng khởi - Thomas nhớ lại - Chúng tôi vui mừng khi tất cả tiếp đất an toàn và lành lặn”. Sau đó Thomas nhận được một “màn chào mừng” từ một đám đông anh ước đoán khoảng 200 người. Cựu chiến binh Việt Minh Vũ Đình Huỳnh nhớ lại Thomas đã rất “sửng sốt” khi Việt Minh trả lại anh ta một nắm đôla bị rơi ra khi nhảy dù. “Đúng là họ rất sững sờ - Vũ Đình Huỳnh viết - tất cả bọn họ càng ngạc nhiên hơn khi biết sự hoàn trả này không phải của những người nguyên thủy cổ xưa không biết gì về giá trị tiền bạc, mà từ lực lượng kháng chiến biết nhiều ngoại ngữ và chắc chắn biết rõ giá trị của những gì đã rơi từ trên trời xuống”. Sau đó Thomas được đề nghị đọc một bài “diễn văn chào mừng” ngắn chứa đựng ít “lời hoa mỹ.” Anh nhớ nội dung là: “Tất cả chúng ta đang cùng nhau tiến hành cuộc đấu tranh chống Nhật”. Thomas gặp Tan và Phelan và được họ đưa cả nhóm về “ngôi nhà mới”, được chuẩn bị đặc biệt dành cho những người Mỹ.

Image
Những người lính của lực lượng Việt - Mỹ, được trang bị vũ khí thu được của Pháp, trước trận đánh ở Thái Nguyên - Ảnh tư liệu

Những tân binh trẻ của Việt Minh được người Mỹ huấn luyện cách sử dụng súng cacbin M-1, súng tiểu liên Thompson, súng trường, bazooka, súng máy hạng nhẹ và Bren. Chương trình huấn luyện gồm phép đạc tam giác, tập bắn và lau chùi vũ khí. Họ còn được hướng dẫn cách sử dụng súng cối và lựu đạn. Việc tập luyện tương đối căng thẳng từ ngày 9 đến 15-8, từ 5g30-17g. Ngày 10-8, họ nhận được một đợt thả đồ tiếp tế bổ sung vũ khí và đạn dược để tiếp tục công tác huấn luyện tân binh. Chắc chắn nhà lãnh đạo Võ Nguyên Giáp rất vui mừng với những khí tài bổ sung này. Trang thiết bị được thả dù xuống Việt Bắc vào ba vị trí thả đồ tiếp tế của đội Hươu, kết hợp với những loại vũ khí nhẹ do Việt Minh chế tạo tại những nhà máy quân khí đơn sơ của họ trong rừng đã tạo thành một đội quân được trang bị vũ khí đầy đủ, gây ấn tượng cho những người dân nông thôn. Ông Võ Nguyên Giáp nhớ lại: “Nhìn thấy nhóm quân mới đứng trong hàng ngũ chỉnh tề và được trang bị súng trường mới cùng lưỡi lê sáng loáng khiến chúng tôi phấn khởi và tin tưởng”.

Trong khi đó, mặc dù sự đầu hàng của Nhật dường như đã diễn ra vào ngày 10-8, nhưng cả người Mỹ lẫn người Việt tại Việt Bắc đều không thể chắc chắn là chiến tranh thật sự kết thúc, vì vậy công tác huấn luyện vẫn tiếp tục hơn bốn ngày sau. Nhưng ngay khi người Mỹ đang kết thúc cuộc chiến của họ, Việt Minh lại đang sắp đặt những kế hoạch mới. Giữa tháng tám, Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức một hội nghị chiến lược tại một ngôi làng gần Tân Trào. Niềm phấn khởi lan truyền khắp nơi khi các phái đoàn từ xa như miền Nam, miền Trung, Lào và Thái Lan trên đường về Tân Trào, khi những cán bộ đã nhiều năm không gặp nhau tìm hiểu lại về nhau và khi tự do dường như sắp đến gần. Như một hoạt động bên lề hội nghị, các đại biểu được đưa tới những trại huấn luyện để chứng kiến công tác huấn luyện của lực lượng Việt - Mỹ. Đối với hầu hết các đại biểu, các thành viên đội Hươu là những người Mỹ đầu tiên họ đã từng gặp.

Ngày 15-8, khi hội nghị bế mạc thì Thomas ăn mừng tin về sự đầu hàng “sắp diễn ra”, ông Võ Nguyên Giáp quyết định hạ trại, đến gặp cụ Hồ Chí Minh và tiến về Thái Nguyên. Ngay khi ông Võ Nguyên Giáp và Thomas tới trụ sở chính của cụ Hồ Chí Minh thì thấy cụ đến trên một chiếc cáng. Cụ Hồ Chí Minh báo tin Nhật đã đầu hàng vô điều kiện. Thomas phát những vũ khí đội Hươu đã sử dụng trong huấn luyện cho bộ đội Việt Minh và thông báo với cả học viên và những người Mỹ rằng họ có thể sẽ ra đi ngày hôm sau. Đêm hôm đó những người Mỹ và người Việt liên hoan đến khuya. “Chúng tôi bắn pháo hiệu và pháo hoa trước các binh sĩ của mình - Thomas nhớ lại - Tất cả mọi người cùng hét to “Hoan hô! Hoan hô!”. Đêm nay chúng tôi là những chàng trai hạnh phúc. Chúng tôi sẽ có bộ dạng khá tệ khi lên đường sáng ngày mai”. Trong lúc các binh sĩ ăn uống và hát hò, một thành viên Việt Minh là Triệu Đức Quang nói với những người Mỹ là anh đã coi họ như những người bạn. “Những người bạn Mỹ của chúng ta giải thích rằng hòa bình đã đến và bây giờ tôi không phải đánh nhau nữa”, anh nhớ lại. “Nhưng - Triệu Đức Quang vội nói thêm - quân Nhật vẫn có mặt trên đất nước tôi, và nước chúng tôi vẫn còn chiến tranh vì thế chúng tôi vẫn phải tiếp tục chiến đấu”.

 

Tiến về Hà Nội

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại sự hân hoan tràn ngập ở Tân Trào khi tin tức về Nhật đầu hàng được loan báo.

“Tôi nhận lệnh chuẩn bị chiến đấu từ Ủy ban trung ương - ông giải thích - Ngày 16-8, cùng quân giải phóng tôi rời Tân Trào để tấn công quân Nhật tại Thái Nguyên, đó là thị xã đầu tiên được giải phóng khỏi sự chiếm đóng của quân thù trên đường chúng tôi tiến về Hà Nội”.

Về Thái Nguyên

Ông Giáp và Thomas Allison chỉ huy các chiến sĩ vượt qua địa hình khó khăn. Chuyến đi bốn ngày tới Thái Nguyên phải băng qua những con đường núi dốc đứng và lội qua những dòng nước lũ, thường xuyên đi trong bùn lầy và mưa. Tuy nhiên, hằng đêm họ được lo chỗ ngủ khô ráo, sạch sẽ và bữa ăn nóng sốt. Mặc dù tuyến đường vất vả, cựu chiến binh Việt Minh Nguyễn Chính hồi tưởng những cuộc trò chuyện vui vẻ bằng tiếng Pháp như chỗ bạn bè với Thomas, về nụ cười của viên thiếu tá và câu trả lời “không vấn đề gì” khi anh chịu đựng những cơn mưa rào và lôi ra những con vắt xanh.

Chẳng những nhận được đồ tiếp tế từ những người nông dân, anh còn được chào đón bằng những nụ cười hân hoan, những tràng vỗ tay và tiếng hò reo “Hoan hô! Hoan hô!”. Nhiều cán bộ địa phương đến chào mừng Thomas. Và Thomas đã đáp lại: “Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến đất nước của các bạn, nhưng đến lúc này chúng tôi có rất nhiều tình cảm và ấn tượng tốt đẹp về vẻ đẹp của cảnh vật và con người của vùng đất này. Tôi hi vọng sau này chúng tôi sẽ có nhiều cơ hội hơn để đi thăm đất nước các bạn, Việt Nam, và đó hẳn là một niềm vui lớn. Nhưng bây giờ, cả các bạn và chúng tôi phải thực hiện nhiệm vụ chung trong cuộc chiến chống Nhật và chúng ta hãy cùng hợp tác để hoàn thành nhiệm vụ. Chúng tôi hi vọng mối quan hệ hữu nghị Việt - Mỹ sẽ tồn tại lâu dài”.

Ngoài sự chào đón của người dân, Thomas còn nhớ đã nhìn thấy cờ Việt Minh trong những ngôi làng mà anh đi qua. Anh kết luận rằng đây là một biểu hiện rõ ràng về sức mạnh của Việt Minh tại khu vực đó. Cũng chính trong chuyến đi vất vả tới Thái Nguyên này mà Thomas đã hiểu thêm về nhà lãnh đạo Võ Nguyên Giáp: “Chuyến đi bộ xuyên qua những vùng đồi núi là khoảng thời gian tôi gần gũi nhất với tướng Võ Nguyên Giáp. Lúc đó tôi khoảng ba mươi tuổi, và ông có lẽ chỉ lớn hơn tôi ba tuổi. Có lúc ông kể cho tôi nghe rằng vợ và chị dâu của ông đã chết trong nhà tù của Pháp. Ông có tình cảm chống Pháp rất mạnh. Ông là người mạnh mẽ, không nghi ngờ gì nữa. Người Pháp gọi ông là núi lửa bị tuyết bao phủ. Ông luôn biết kiềm chế bản thân, và rõ ràng là rất thông minh và có giáo dục. Quân lính của ông tôn thờ ông. Tôi rất mến ông”.

Tướng Võ Nguyên Giáp và Thomas đến Thái Nguyên vào khoảng năm giờ sáng. Nơi họ dừng chân đầu tiên là tòa thị chính thành phố. Tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi một tối hậu thư yêu cầu đầu hàng tới quân Nhật.
Từ 6-6g30 sáng, chiến sự nổ ra giữa quân Nhật và Việt Minh. Những trận đánh tiếp diễn sau đó. Đến ngày 26-8, Thái Nguyên đã làm lễ mừng ngày giành được tự do từ tay Nhật. Có một cuộc diễu binh trong thị xã, và hầu hết các tòa nhà đều treo cờ Việt Minh.

Độc lập

Vào tháng 8-1945 không có ai làm việc cần mẫn và vất vả hơn Việt Minh để soi sáng con đường đến thắng lợi. Khi Archimedes Patti đến Hà Nội, thái độ lạc quan dâng cao trong người Việt rằng cuối cùng họ có thể giành được tự do, cái mà họ đã phải đấu tranh quá lâu. Ba ngày trước khi Patti đến, Việt Minh đã tiếp quản thành phố. Nhiều năm sau, tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại: “Hiểu rõ những chỉ thị của Đảng, và lợi dụng tình trạng mất tinh thần cao độ của Nhật, sự khiếp đảm của chính quyền bù nhìn và sự dao động của lực lượng bảo an, các tổ chức Đảng địa phương và Việt Minh ngay lập tức nắm lấy thế chủ động để lãnh đạo quần chúng giành chính quyền”.

Tin tức về những sự kiện tại Hà Nội nhanh chóng lan đến miền Nam, miền Trung Việt Nam. Ngày 23-8, một đoàn nông dân khoảng 100.000 người tuần hành vào Huế cổ vũ thành lập ủy ban giải phóng Việt Minh. Kinh ngạc trước “phép mầu” xuất hiện nhanh đến khó tin, vua Bảo Đại buộc phải xin thoái vị và trao ngọc ấn cho Việt Minh. Theo đề nghị trong bức điện từ “Ủy ban Ái quốc” tại Hà Nội, vua Bảo Đại quyết định từ bỏ ngai vàng và trở thành một “công dân bình thường” có tên Vĩnh Thụy. Ngày 25-8, vua Bảo Đại thông báo ý định thoái vị cho các thành viên hoàng tộc đang sững sờ và tuyên bố rằng ông ta “thà làm dân trong một quốc gia độc lập còn hơn làm vua của một đất nước bị nô lệ”.

Khi Bảo Đại đang chuẩn bị đọc bài phát biểu cuối cùng với tư cách là một hoàng đế, Patti đã hội kiến rất nhiều thành viên trong giới báo chí Việt Nam tại Hà Nội. Patti tuyên bố ngắn gọn, cố làm rõ lập trường của Mỹ: “Người Mỹ chúng tôi đánh giá cao sự đón tiếp nồng ấm của các bạn. Công việc của chúng tôi chỉ là thực thi quân lệnh và xin các bạn vui lòng hiểu rằng lập trường và thái độ của chúng tôi là trung lập. Chúng tôi đến đây với mục đích duy nhất là mở đường cho hội nghị hòa bình sắp diễn ra để chính thức chấm dứt xung đột. Chúng tôi vui mừng được gặp các bạn, cũng như bất cứ cá nhân thuộc bất kỳ đảng phái và quốc tịch nào và vào bất kỳ thời gian nào”.

Ngày 29-8, cụ Hồ Chí Minh đề nghị Patti tới gặp mình. Cụ Hồ Chí Minh có hai thông báo quan trọng: Thứ nhất, Bảo Đại sẽ chính thức thoái vị vào ngày hôm sau, chấp thuận trao quyền cho Việt Minh; thứ hai, ngày 2-9 sẽ trở thành ngày độc lập của Việt Nam. Khi chuẩn bị cho ngày quan trọng này, cụ Hồ Chí Minh muốn trao đổi với Patti về một tài liệu quan trọng: Bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam. Patti chúc mừng cụ Hồ Chí Minh và “mong ngài thành công” trong kế hoạch giành độc lập. Bản tuyên ngôn độc lập viết: “Tất cả mọi người được sinh ra đều có quyền bình đẳng; tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Những lời mở đầu được mượn từ Bản tuyên ngôn độc lập của Mỹ.

Vào chủ nhật 2-9, Patti và đội của ông hòa cùng hàng nghìn người Việt Nam đổ ra các đường phố Hà Nội chờ chứng kiến những sự kiện sẽ xảy ra vào ngày đầy hứa hẹn này. Patti rõ ràng bị ấn tượng với cảnh tượng cờ đỏ bay phấp phới trong làn gió nhẹ và làm nổi bật thành phố được kết đầy hoa. Những người lính Việt Minh được tập luyện tốt nhất, ăn mặc chỉnh tề nhất và trang bị tốt nhất tạo ra sự hiện diện đầy ấn tượng phía trước khán đài trang hoàng cờ hoa.

Là “người giải phóng và vị cứu tinh của đất nước", cụ Hồ Chí Minh bắt đầu nói với nhân dân, dừng lại sau một câu để hỏi đồng bào có nghe rõ ông nói hay không. “Đó là một bậc thầy về hùng biện - Patti nhận xét - Từ khoảnh khắc đó, cả biển người nghe như nuốt lấy từng lời... Rõ ràng trong tâm trí chúng tôi ông đang ở sát bên họ”. Những ngày sau đó, thêm nhiều người Việt Nam đọc, hoặc nghe nguyên văn những bài phát biểu và cảm thấy dâng lên niềm tự hào dân tộc.

DIXEE R. BARTHOLOMEW-FEIS
(LƯƠNG LÊ GIANG dịch)
Theo Tuổi Trẻ

Chết tự do hơn sống nô lệ

Details
Cách mạng Tháng Tám
07 September 2006
Hits: 5138

Ông vẫn còn tráng kiện lắm, giọng nói sang sảng đặc chất Nam bộ cho dù đã vượt qua cái ngưỡng tuổi 80: “Làm sao quên được những ngày ấy, những người nông dân, công nhân đồn điền cao su, học sinh trường làng... của cái xã An Tịnh nhỏ bé ấy cứ ngất ngây trước hai chữ: tự do!

Ngọn cờ hồng trên chiến lũy!

Đời ông, đời cha mình có bao giờ được nghe hai chữ này đâu! Tôi và một số anh như Nguyễn Thanh Tùng, Huỳnh Duy Ngươn, Nguyễn Văn Sữa, Trương Tùng Quân, Trần Bá Liêm, Trần Bá Bên, Tô Văn Ri... tham gia đoàn thanh niên tiền phong xã và cùng với các đoàn thể trong ủy ban khởi nghĩa xã chuẩn bị cướp chính quyền...”. Trung tướng Nguyễn Thới Bưng, nguyên phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân VN, nhớ lại tuổi 20 của mình.

Ngày 25-8-1945, người dân An Tịnh cũng như huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh và cả miền Nam cùng đứng lên cướp chính quyền. Những đoàn người cuồn cuộn như sóng biển. Vị tướng già đã đi qua trọn vẹn hai cuộc kháng chiến bồi hồi nhớ lại:

“Chúng tôi cùng xuống đường và hô vang khẩu hiệu: Việt Minh muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm! Dòng máu trẻ cứ rần rật chảy trong người. Hàng ngàn, hàng vạn con người, những đội hình đội ngũ chỉnh tề, trên tay chỉ với tầm vông vạt nhọn mà tinh thần đánh giặc vô cùng hăng hái, tưởng như quân Pháp, quân Nhật xuất hiện với tàu đồng, xe tăng, đại bác... cũng không thể ngăn nổi cơn sóng trào này. Nhìn bóng cờ đỏ sao vàng bay phần phật trong gió, chúng tôi đã thấy được bình minh của tự do...”.

Quân Pháp quay trở lại miền Nam! Để đối phó, cuối tháng 9 -1945 xã An Tịnh đã tuyển chọn một tiểu đội do đồng chí Nguyễn Ngọc Tươi chỉ huy chi viện cho mặt trận Tham Lương. Vừa chuẩn bị lực lượng, khí giới, công sự sẵn sàng cho cuộc chiến, vừa xây dựng phòng tuyến, chiến lũy địa đầu của tỉnh Tây Ninh tại khu vực Suối Sâu, các lực lượng thanh niên Gia Lộc, Lộc Hưng, Trảng Bàng... được khẩn cấp điều động ra chiến lũy, chiến tranh là không thể tránh khỏi!

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng kể: “Sáng 8-11-1945, hàng trăm xe cơ giới có cả xe tăng và xe bọc thép do liên quân Anh - Ấn chỉ huy, theo sau là lính lê dương Pháp bất ngờ đánh úp Tây Ninh và vùng giáp giới Campuchia. Chúng tôi đều xung phong ra chiến lũy Suối Sâu chỉ vì một lời nguyện thề với lòng mình: Thà hi sinh trên chiến lũy dưới ngọn cờ hồng tự do chứ không thể trở về quê nhà tiếp tục lầm lũi kiếp nô lệ! Lúc đó trên chiến lũy súng thì ít mà giáo mác, mã tấu, tầm vông thì nhiều, nhưng ai cũng hừng hực ý chí xả thân...”.

Lời thề Rừng Rong

Phòng tuyến địa đầu vỡ nhanh chóng, tầm vông vạt nhọn sao có thể đối đầu với xe tăng, đại bác! Để bảo toàn lực lượng và cũng là để chuẩn bị cho một cuộc trường kỳ kháng chiến, các chiến sĩ trên chiến lũy Suối Sâu buộc phải rút về Bàu Mây, Rừng Rong (An Tịnh) chỉnh đốn lực lượng và liên lạc với các nơi khác như Trâm Vang (Gia Bình), Cầu Quan (An Hòa)... cũng đã rút lui để hợp lực cho sự ra đời của “Đội tự vệ chiến đấu huyện Trảng Bàng” do Trần Văn Chói chỉ huy, với 27 nam nữ chiến sĩ được chia thành nhiều nhóm do Mười Tùng, Sáu Hung, Út Bưng, Hai Ngươn... làm trưởng nhóm.

Các nhóm hoạt động dựa vào dân để đưa tin, tiếp tế, nuôi dưỡng, cung cấp vũ khí. Đội tự vệ chiến đấu chọn Rừng Rong làm căn cứ để tiến hành chiến tranh du kích. “Gian khổ lắm, những ngày cuối năm 1945 theo chân quân Pháp chiếm đóng là bọn tề gian tràn về cướp bóc, hãm hiếp bà con mình ngay giữa ban ngày. Diệt tề là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của đội, chúng tôi một mặt dựa vào dân, một mặt tìm mọi cách tiếp cận xóm làng để tổ chức trừ gian, giải tán hội tề, kết hợp tuyên truyền vận động bà con tham gia cách mạng… Sự tàn ác của giặc ban đầu làm bà con nao núng lắm, nhưng dần dần bà con đã lấy lại niềm tin với lực lượng kháng chiến chúng tôi...” - vị tướng già nhớ lại những ngày ấy.

Hồi ức của 60 năm trước sống dậy trong ông: “Hình ảnh về bóng cờ đỏ sao vàng bay trong gió của cái ngày cướp chính quyền, bóng cờ ám khói trên chiến lũy với chúng tôi không thể nào quên. Cuộc kháng chiến sẽ con rất gian khổ và lâu dài, làm sao để dân tin là chúng tôi - những người cách mạng - sẽ chiến thắng.

Để biểu thị lòng quyết tâm của đội tự vệ chiến đấu với lý tưởng cho nền độc lập và để người dân cũng có được niềm tin ấy, đêm 30 Tết Ất Dậu (ngày 1-2-1946), tại Rừng Rong, chúng tôi tổ chức ăn thề. 27 nam nữ chiến sĩ của đội tự vệ chiến đấu Trảng Bàng đều ở độ tuổi 20 và có thành tích xuất sắc nhất trong chiến đấu từ các mặt trận trong huyện trở về, quần áo chỉnh tề, chỉ với một vài khẩu súng trên vai, đội ngũ đứng nghiêm trang dưới ánh đuốc bập bùng trong đêm.

Sau khi đồng chí chỉ huy đội Trần Văn Chói đọc lời thề chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ nền độc lập của đất nước, cả 27 nam nữ chiến sĩ chúng tôi đều hô vang: “Độc lập hay là chết!... Chết tự do hơn sống nô lệ! Ai phản bội sẽ chịu xử tử...”.

Tất cả họ - những người con trai, con gái tuổi đôi mươi - đã giữ vững lời thề chết cho độc lập, chết cho tự do... Trong một lần tập kích, anh Nguyễn Văn Hung đã bị trúng đạn và bị bắt, quân Pháp tra tấn rất dã man nhưng anh vẫn không hé răng khai một lời về nơi đóng quân của đội tự vệ chiến đấu.

Còn chị Trần Thị Đường bị giặc bắt, bị chúng dùng dây điện quấn quanh hai bàn tay rồi ghim điện tra tấn suốt ngày đêm nhưng người con gái tuổi mới đôi mươi này có một dũng khí mạnh hơn đòn tra tấn, đó là lời thề trong đêm Rừng Rong. Nhiều chiến sĩ đã chọn cái chết trước mũi súng quân thù để bảo vệ khí tiết như chị Trần Thị Đẹp. Chỉ riêng trong năm 1946 ác liệt đó, đã có hơn phân nửa những người tham gia hội thề Rừng Rong vĩnh viễn nằm xuống!

Ông Nguyễn Thới Bưng cho đến bây giờ vẫn còn nhớ những cái tên, những gương mặt đã in đậm trong ký ức: “Người ta hay nói thanh niên bồng bột, nhưng với chúng tôi thời ấy cũng mới chỉ 19, 20 nhưng chín chắn lắm. Trước vận nước lâm nguy không thể có chuyện bộc phát sôi nổi. Không ai bội ước với lời thề. Đa số họ hy sinh rất sớm, nằm lại chiến trường ở tuổi 20, chưa thấy được độc lập, tự do. Nhưng những người còn lại vẫn tiếp tục đi trên con đường đó đến cùng.

Sau ngày miền Nam giải phóng, chúng tôi mừng rơi nước mắt, trong số 27 người ngày ấy có đến bốn người được phong quân hàm cấp tướng, hai sư đoàn trưởng, hai ủy viên trung ương, hai tư lệnh quân khu... Mà không chỉ vậy, xã An Tịnh chúng tôi đã hai lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang và có đến 1.200 liệt sĩ, 54 bà mẹ VN anh hùng, năm cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang...

VŨ BÌNH - THẾ ANH

(báo Tuổi Trẻ)

Rủ nhau đi làm cách mạng

Details
Cách mạng Tháng Tám
07 September 2006
Hits: 4839

Đã 83 tuổi nhưng bác Sáu Chí (Nguyễn Văn Chí) hồ hởi ra mặt khi nghe nhắc chuyện Cách mạng Tháng Tám. “Ui chao, không khí những ngày ấy tuyệt vời lắm. Ngày ấy chúng tôi gọi là: rủ nhau đi làm cách mạng”. Câu chuyện về những ngày tổng khởi nghĩa cứ thế cuốn theo cái đà “rủ nhau” ấy...

Tham gia cách mạng và vào Đảng từ phong trào Nam kỳ khởi nghĩa 1940, đến thời kỳ tổng khởi nghĩa tôi làm bí thư quận Trung, tỉnh Chợ Lớn (một phần Long An bây giờ). Khởi nghĩa Nam kỳ thất bại, phong trào bị đàn áp nhưng cái mầm để khôi phục rất lớn, rất khỏe.

Nhà nào cũng cất giấu cờ đỏ sao vàng, bà con nào cũng say mê tấm ảnh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Dân tản cư từ Sài Gòn ra để tránh bom đạn của liên quân cũng rất đông. Chính sách tàn bạo của Nhật thì ai cũng biết và khiếp sợ. Chúng tôi cứ dựa vào đó để dấy lên phong trào.

Các tổ chức đoàn hội bán công khai dưới danh nghĩa cứu tế được thành lập, thanh niên được vận động trốn lính, giúp dân từ việc làm ruộng đến việc tang ma. Chúng tôi giúp dân không lấy công, không ăn cơm nên họ rất tin tưởng. Những buổi tối, buổi trưa vãn việc, thanh niên trí thức lại tập họp dân chúng lại đọc báo, phổ biến tình hình cho bà con.

Từ những buổi nói chuyện này, chủ trương cách mạng đã được tuyên truyền tới nông dân, và tổ chức cũng nhận ra được những người nòng cốt, sẵn sàng sống chết với cách mạng. Tôi nhớ mãi hôm chúng tôi tổ chức đọc thư của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gửi đồng bào cả nước. Trước đó, hết Pháp rồi Nhật loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết khiến mọi người hoang mang, thất vọng.

Rồi thư của Người đến: “Cơ hội giải phóng đã đến rồi. Hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết. Ai là người Việt Nam đều phải gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, có của góp của, có sức góp sức, có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành độc lập, dù phải hi sinh tính mệnh cũng không nề”.

Người đọc cao giọng ở trên, người nghe sụt sùi ở dưới, nhưng sau đó là một không khí bừng bừng phấn khích. Mấy bà má tìm tôi: “Vậy là Nguyễn Ái Quốc còn sống, thế là yên tâm rồi”.

Thời bây giờ mà nhớ lại những ngày hoạt động ấy thì thấy buồn cười. Chúng tôi đi làm cách mạng mà cứ rủ nhau như là rủ ra ruộng làm đồng, hẹn giờ bằng đồng hồ mặt trời. Tình hình toàn cục thì cứ mua Báo Dân Chúng để theo dõi, vì tài liệu của tổ chức đưa theo đường dây rất chậm, giao liên toàn đi bộ mà. Việc đảm bảo bí mật hoàn toàn dựa vào lòng tin và sự lan truyền của những người cùng dòng họ.

Thế mà việc cướp chính quyền lại thành công mỹ mãn. Đa số nhân dân không biết đọc, nhưng chỉ sau một đêm họp phổ biến bản Hiệu triệu của Xứ bộ Đảng Cộng sản Đông Dương, đi đến đâu cũng nghe bà con râm ran đọc thuộc lòng “Họ quyết tâm đưa chúng ta làm bia đỡ đạn cho họ. Quân đội họ nắm, kinh tế họ chiếm, ngoại giao họ lo, chính trị họ cầm cả. Cứu ta chỉ có ta thôi, trông cậy vào người là chết”.

Rằm tháng bảy năm ấy (tức khoảng 22, 23-8), nửa đêm Ủy ban Khởi nghĩa đánh trống quân tập hợp dân đi cướp chính quyền. Khắp các làng mọi người đổ ra, rầm rập tay đuốc, tay vũ khí, mà chỉ là dao, mác, roi tre, gậy tầm vông. Đội Thiếu niên tiền phong đã được tập từ trước nên hàng ngũ rất tề chỉnh. Không khí ấy khiến đám hương ước, hội tề trong làng rất kinh hoảng không dám chống cự.

Chúng tôi chiếm đóng nhà làm việc, và đến sáng thì chính quyền mới đã thành lập xong, đầy đủ các chức vị chủ tịch, ủy viên hành chính, quân sự, an ninh..., các chính sách lớn như bỏ thuế thân, tự do hội họp được công bố khiến bà con rất phấn khởi.

 

Nhưng tất cả việc đó vẫn chỉ là hình thức của cách mạng. Cái lớn nhất mà công cuộc tập hợp nhân dân cướp chính quyền đã đạt được chính là điều được nhấn mạnh trong thư của Nguyễn Ái Quốc: Toàn dân đoàn kết.

Sự đoàn kết, thương yêu lẫn nhau trong những ngày ấy đạt đến mức gần như tuyệt đối. Đi đến đâu chúng tôi cũng gặp những gương mặt tươi cười, hào hứng, sẵn sàng đem tất cả những gì mình có để giúp người khác.

Những xích mích về bờ giậu, khoảnh ruộng, bờ ao mới hôm trước còn là những việc tày đình thì hôm nay mọi người vui cười bỏ qua trước sự chứng kiến của mặt trận Việt Minh. Các gia đình chia nhau nấu cơm cho anh em tự vệ, trước cửa nhà làm việc lúc nào cũng có mấy bà má xởi lởi mang sang rổ khoai, mớ bánh ú. Chuyện cờ bạc, trộm cắp, nghiện hút mới cách đó ít lâu còn đầy rẫy thì nay bỗng vắng bóng.

Trong quy định của Việt Minh còn có khoản cấm rượu chè, nhưng ở tỉnh Chợ Lớn có làng Gò Đen nổi tiếng, dân địa phương quan niện “vô tửu bất thành lễ”. Biết không thể cấm được, chúng tôi đưa ra khuyến cáo “không được say xỉn”. Thế là cảnh thanh niên, đàn ông mặt mày đỏ gay, đi lại ngật ngưỡng không thấy xuất hiện nữa.

Tối tối, các lớp học bình dân rộn ràng tiếng đánh vần, ai cũng đi học, từ con nít đến ông bà già. Họ bảo nhau: “Không đi học làm sao đọc được thư của lãnh tụ”. Sáng 2-9, chúng tôi cũng tổ chức lễ độc lập, chủ tịch tỉnh đứng lên đọc các văn bản được tổ chức gửi xuống, đọc các tin tức trên báo chí.

Nghe tên Hồ Chí Minh, mọi người rất xôn xao, nhao nhao hỏi: “Hồ Chí Minh là ai?”. Chúng tôi giải thích đó là tên mới của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, rồi phải mang ảnh ra so sánh làm bằng chứng mọi người mới tin. Và từ đó lại càng nô nức đi học.

Những ngày tuyệt vời ấy tiếc thay lại chỉ có 29 ngày ngắn ngủi. Pháp quay trở lại. Đã biết kinh nghiệm của những ngày phong trào Nam kỳ khởi nghĩa bị đàn áp đẫm máu, một số người có tư tưởng hoang mang, dao động, chúng tôi lại tập họp, giải thích rằng lần này chúng ta đã có Nhà nước, có Chính phủ, thủ đô vẫn còn, Bác Hồ vẫn đó, chiến khu Việt Bắc đã được chuẩn bị sẵn...

Nghe đến tên Bác Hồ, mọi người lại yên tâm, lại bừng bừng khí thế và cứ thế nô nức đi thẳng đến những ngày Nam bộ kháng chiến...

PHẠM VŨ ghi
(theo báo Tuổi Trẻ)

Cách mạng Tháng Tám

Details
Cách mạng Tháng Tám
07 September 2006
Hits: 51593

Cuộc tổng khởi nghĩa 19-8-1945 - Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên mới, đưa lịch sử dân tộc đi tới con đường độc lập - con đường tự do. Mùa thu năm ấy, cuộc lên đường của những người trong độ tuổi 20...

Phút “giao thừa” độc lập

Trong cuốn Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám - Đoàn thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu, NXB Lao Động - 1999, ông Nguyễn Khang, nguyên chủ tịch Ủy ban Mặt trận khởi nghĩa Hà Nội, viết: “Phong trào cứu quốc những ngày tháng tám đã lên cao tới mức không thể tưởng tượng được và người Hà Nội ai cũng xem mình là Việt Minh. Các hoạt động gần như công khai.

Lúc này trung ương đang mở đại hội quốc dân ở Tân Trào nên nếu có chỉ thị thì cũng phải đợi một thời gian nữa mới tới. Nhưng thời cơ đã tới và không đợi chúng ta. Hơn nữa chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã là cẩm nang mở cho Hà Nội hành động. Đúng ngày 15-8 xứ ủy mở cuộc họp tại làng Vạn Phúc, Hà Đông (lúc này phần lớn lãnh đạo xứ ủy đã đi họp ở Tân Trào). Cuộc họp nhận định tình hình và kết luận đây là thời cơ có một không hai để khởi nghĩa cướp chính quyền.

Xứ ủy quyết định: thành lập Ủy ban Quân sự cách mạng Hà Nội để chỉ đạo công việc chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa ở Hà Nội. Lúc này quân Nhật ở Hà Nội khoảng hơn 1 vạn. Lực lượng của ta chỉ có ba chi đội tự vệ hơn 700 người, vũ khí thô sơ và mới qua vài lớp huấn luyện quân sự cấp tốc. Tuy nhiên phong trào quần chúng, các tổ chức Việt Minh đoàn thể thì rất mạnh và đã tập dượt qua nhiều lần...”.

Ngày 17-8-1945 chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mittinh ra mắt quốc dân hòng “sơn phết” lại chính quyền bù nhìn. Chúng ta đã lường trước và âm thầm tổ chức lực lượng nòng cốt cướp diễn đàn mittinh này và biến thành ngày hội của quần chúng với cờ đỏ sao vàng. Tại đây đội danh dự đưa ra sáng kiến biến mittinh thành cuộc tuần hành ủng hộ Việt Minh.

Thế là theo hướng dẫn của các đội tự vệ, quần chúng xếp thành hàng ngũ đi từ Nhà hát lớn qua phố Tràng Tiền, rẽ sang Đinh Tiên Hoàng với những tiếng hô vang dậy “Ủng hộ Việt Minh!”, “Đả đảo chính phủ bù nhìn!”. Đi đến đâu bà con tham gia đến đó. Ngay cả lính bảo an của chính phủ bù nhìn cũng ôm súng nhập vào đoàn biểu tình. Trước không khí đó, cuộc họp “hội đồng tư vấn Bắc kỳ” của chính phủ Trần Trọng Kim đang tổ chức ở nhà Khai Trí - Tiến Đức tan tác như ong vỡ tổ.

Đoàn biểu tình chia thành nhiều mũi đi vào khắp các phố lớn, đến tận 9-10g đêm mới giải tán. Cuộc tuần hành này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cho ngày tổng khởi nghĩa 19-8. Nó bộc lộ và khẳng định sức mạnh vũ bão của quần chúng cách mạng. Ngay đêm đó Ủy ban Quân sự cách mạng Hà Nội họp khẩn cấp và kết luận: thời cơ khởi nghĩa đã chín muồi!

Ông Trần Quang Huy, nguyên chủ tịch Ủy ban Nhân dân cách mạng Hà Nội, nói về kế hoạch khởi nghĩa như sau: “Chúng tôi huy động hàng chục vạn quần chúng có lực lượng vũ trang làm xung kích, tiến hành mittinh ở quảng trường Nhà hát lớn, sau đó tuần hành thị uy xông lên chiếm những cơ quan trọng yếu là phủ khâm sai, tòa thị chính, trại bảo an binh, ty liêm phóng, sở cảnh sát Hàng Trống, kho bạc và bưu điện. Đối với Nhật, ta không đánh chiếm những nơi chúng đóng quân nhưng đề phòng trường hợp chúng gây hấn, ta cướp vũ khí, vừa đánh vừa rút ra ngoại thành chiến tranh du kích đợi quân giải phóng về”.

Ông Trần Quang Huy nhớ lại: ngày 18-8, không khí khởi nghĩa rạo rực và bùng phát ở khắp các vùng ngoại thành, tại các nhà máy công xưởng. Nhiều chủ cai, thầy ký còn phối hợp với ta tiếp quản cho nhanh. Anh em công nhân rầm rộ giương cờ đỏ sao vàng chạy qua mũi quân Nhật, bọn chúng cũng chỉ biết thúc thủ đứng nhìn.

Còn ông Thái Mỹ (tổ trưởng một tổ Việt Minh tiền cách mạng), nay đã 81 tuổi nhưng ông chẳng thể nào quên cái đêm hôm ấy: “Đêm giao thừa của kỷ nguyên độc lập hình như cả Hà Nội không ngủ. Những tiếng nói cười, tiếng máy khâu may cờ xè xè hối hả khắp nơi, tiếng thử súng, tiếng mài gươm suốt đêm. Chúng tôi có cảm giác như cả Hà Nội đã chờ đợi ngày này từ trăm năm rồi. Nhiều tốp thanh niên nam nữ tập hát Tiến quân ca, những kế hoạch cuối cùng cho ngày mai - ngày rạng đông độc lập cứ sôi sục mãi suốt đêm thâu...”.

Ngày cách mạng!

Sáng sớm 19-8-1945 các đường phố Hà Nội đã tràn ngập cờ đỏ sao vàng! Tất cả nhà máy, công sở, chợ búa, cửa hiệu, trường học đều đóng cửa. Thậm chí cả ôtô, xe điện, xe kéo, xe đạp cũng không có chiếc nào, trên đường là từng dòng thác người với cờ, biểu ngữ, vũ khí thô sơ hay công cụ lao động rầm rập tiến về quảng trường Nhà hát lớn. Dòng người vừa đi vừa hô khẩu hiệu ủng hộ Việt Minh hoặc hát Tiến quân ca.

Ông Thái Mỹ nhớ lại: “Tổ Việt Minh chúng tôi chịu trách nhiệm dẫn một đoàn đi từ khu Năm Diệm (Giảng Võ) ra Nhà hát lớn. Dẫn đầu là hai thanh niên Lê Văn Cử và Thái Vĩnh cùng giương cao biểu ngữ. Ông Thái Mỹ thì cầm khẩu súng ngắn chỉ huy bên cạnh. Khoảng hơn 100 thanh niên tự vệ Việt Minh đi theo cùng hàng vạn quần chúng với cờ, biểu ngữ và những tiếng hô dậy đất “Ủng hộ Việt Minh!”, “Việt Nam độc lập!”...

Bà con hai bên đường gia nhập đoàn ngày một đông. Tinh thần anh em thanh niên hưng phấn tột độ. Mũi của ông Thái Mỹ phụ trách đi qua Hàng Gai - phố nhà ông ở. Và ông được hưởng niềm hạnh phúc tột cùng: cha mẹ, bà con, hàng xóm nhà mình đứng đầy hai bên đường đã thấy ông cầm súng dẫn đầu đoàn quân cách mạng...

Ra đến Nhà hát lớn ông Nguyễn Huy Khôi bước ra đọc lời hiệu triệu toàn thể quốc dân đứng lên giành độc lập. Tiếng hô vang dậy một góc trời. Cuộc mittinh chuyển sang tuần hành thị uy, chia làm hai khối lớn. Một: chiếm phủ khâm sai, tòa thị chính, bưu điện, kho bạc và sở cảnh sát Hàng Trống; hai: chiếm trại bảo an binh, sở liêm phóng và nhà pha Hỏa Lò.

Tại phủ khâm sai, hai đại đội bảo an binh được lệnh chốt giữ, chĩa nòng súng vào lực lượng cách mạng. Nhưng cũng tại đây ta đã có nhiều cảm tình cài sẵn. Ta vừa biểu tình thị uy, vừa kêu gọi binh lính quay súng trở về với nhân dân. Viên chỉ huy đang lúng túng lo sợ thì một số thanh niên tự vệ đã trèo hàng rào nhảy vào.

Tất cả binh lính đều bó tay qui hàng giao nộp vũ khí. Tự vệ ùa vào sân hạ cờ giặc, kéo cờ đỏ sao vàng, bắt giam một số tên cầm đầu và thu vũ khí trang bị cho tự vệ. Còn tại trại bảo an binh thì gặp rắc rối: ta cướp súng lính canh, phá cửa tiến vào, thu vũ khí thì lính Nhật ào đến với bốn xe tăng gắn đại liên. Chúng đòi trả lại trại và tước vũ khí của ta.

Bà Minh Tâm kể: lực lượng nữ được tung ra, chị em nữ sinh kéo đến vây lấy xe tăng Nhật. Một mặt ta bao vây thị uy, một mặt ủy ban cử người đến nói chuyện với chỉ huy quân Nhật. Sự kiện này được ghi lại theo hồi ức của ông Lê Trọng Nghĩa, ủy viên ủy ban khởi nghĩa, trong cuốn 19-8 cách mạng là sáng tạo như sau: “Tôi lấy chiếc xe Limousine đen của phủ khâm sai cắm cờ đỏ sao vàng rồi tiến thẳng xuống đường Hàng Bài, thuộc khu vực Nhật kiểm soát.

Dừng trước cổng rạp Majestic (nay là rạp Tháng Tám) và đòi gặp viên chỉ huy, tôi nói với viên sĩ quan: “Trại bảo an binh thuộc quyền phủ khâm sai người Việt, mà người Nhật sắp về nước rồi nên đừng can thiệp vào nội bộ chúng tôi”. Viên sĩ quan không có vẻ hung hăng như trước mà chỉ nói: “Các ông phải nói chuyện với cấp trên của chúng tôi” rồi quay vào. Thế là khoảng 3-4 giờ chiều xe tăng Nhật rút lui...”.

Ông Lê Tuấn không thể nào quên ngày trọng đại đó: “Thấy bọn Nhật lê ủng quay về, quần chúng hò reo vang dậy. Họ ùa sát hàng rào sắt nắm lấy tay anh em tham gia chiếm giữ trại lính. Một cụ già khăn xếp áo sa dài tay chống ba toong cố len đến hàng rào thò bàn tay gầy run rẩy nắm tay anh em và móm mém nói: “Hậu sinh khả úy! Việt Minh vạn tuế! Việt Minh vạn tuế!”. Các chị, các mẹ chở cơm bằng xe tay vào cho lực lượng cách mạng. Mọi người chia nhau những nắm cơm chấm muối. Những nắm cơm ngày ấy có mùi vị khác hơn bao ngày, bởi đó là những miếng cơm đầu tiên mọi người được thụ hưởng trong không khí tự do...

Năm ngày sau khi Hà Nội khởi nghĩa thành công, người dân đất kinh thành Huế cũng đã đứng lên cướp chính quyền. Trong số họ có cả những hoàng thân quốc thích, con quan đại thần, tổng trấn… Và ngôi trường võ bị do chính phủ bù nhìn thân Nhật lập nên cũng chính là “lò” cung cấp thủ lĩnh quân sự cho cách mạng…

QUANG THIỆN

 

Năm 1945, tại Huế có một trường võ bị - gọi là Trường Quân sự thanh niên tiền tuyến (TNTT), tuy do chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim lập nên nhưng điều hành ngôi trường lại là những trí thức yêu nước nổi tiếng như giáo sư Tạ Quang Bửu, luật sư Phan Anh - những người sau này đều giữ cương vị quan trọng trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập...

Từ ngôi trường “xanh vỏ, đỏ lòng”...

Học viên ngôi trường ấy đa phần đều là quí tử của những gia đình “danh gia vọng tộc” như  ông Tôn Thất Hoàng là con của thượng thư Tôn Thất Quảng; ông Đặng Văn Việt, thân phụ làm tổng đốc Nghệ An, từng ba lần giữ chức thượng thư; ông Võ Sum là con quan án sát Võ Chuẩn; Lê Thiệu Huy (người sau này sang chiến đấu cùng Mặt trận Lào, làm tham mưu trưởng liên quân Lào - Việt, ông đã lấy thân mình che đạn cho hoàng thân Xuphanuvông khi mặt trận Thà Khẹt bị vỡ và hi sinh trên dòng Mekong) con trai cụ Lê Thước, giải nguyên Hán học; Hoàng Xuân Bình, em ruột giáo sư Hoàng Xuân Hãn; Nguyễn Thế Lương (tức Cao Pha) là con của một nhà thầu khoán lớn...

Vậy mà sau ngày cách mạng mùa thu năm 1945, nhiều học viên Trường TNTT đã giác ngộ cách mạng, đi theo tiếng gọi của núi sông và trở thành những sĩ quan, tướng lĩnh tài ba của quân đội nhân dân VN (QĐNDVN) như  trung tướng Cao Văn Khánh, phó tổng tham mưu trưởng QĐNDVN; thiếu tướng  Nguyễn Thế Lâm (Nguyễn Kèn), tư lệnh bộ đội tăng - thiết giáp; thiếu tướng Cao Pha, phó tư lệnh bộ đội đặc công; các thiếu tướng Mai Xuân Tần, Võ Quang Hồ, Đoàn Huyên, Phan Hàm, Đào Hữu Liêu... cùng nhiều sĩ quan cao cấp khác của quân đội.

Nhiều người nổi danh về tài đánh giặc như Đặng Văn Việt - trung đoàn trưởng trung đoàn 174 - mệnh danh là “đệ tứ quốc lộ đại vương” bởi những trận đánh do ông chỉ huy trên đường số 4 vùng Cao - Bắc - Lạng thời kháng Pháp. Nhiều người sau này chuyển sang dân sự là những giáo sư, tiến sĩ dạy tại các trường đại học danh tiếng.

Khung huấn luyện của trường bấy giờ có bốn người do ông Phan Tử Lăng làm giám đốc. Ông Lăng cũng là chỉ huy trưởng lực lượng bảo an Trung kỳ - cùng các ông Võ Lương, Lê Khánh Khang và Lê Đình Bân. Ông Phan Tử Lăng là thủ khoa khóa sĩ quan chính qui Pháp đầu tiên, cùng khóa với tổng thống Dương Văn Minh của chính quyền Sài Gòn.

Sau này tham gia cách mạng, ông Phan Tử Lăng là đại tá, cục trưởng Cục Quân chính QĐNDVN, nổi tiếng liêm khiết được Bác Hồ khen ngợi. Trong số bốn thành viên “khung” của Trường TNTT ngày ấy có một người nay vẫn còn sống ở Huế, đấy là ông Lê Đình Bân.

Gia đình ông Lê Đình Bân vốn là một gia đình cách mạng lớn ở  làng Triều Sơn Tây. Ngôi nhà của gia đình ông ở xã Hương Sơ, ngoại vi thành phố Huế, vốn là cơ sở của đồng chí Phan Đăng Lưu trước cách mạng. Ba ngày trước khi nổ ra tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 ở Huế, các đồng chí trong Ủy ban chỉ đạo khởi nghĩa do trung ương cử vào gồm Tố Hữu, Nguyễn Duy Trinh, Hồ Tùng Mậu cũng đã chọn ngôi nhà này làm trạm dừng chân.

Ông Lê Đình Bân năm nay đã 86 tuổi nhưng ký ức của thời trai trẻ vẫn chưa hề phai. Ông Bân kể: khi giáo sư Tạ Quang Bửu lập Trường TNTT,  ngoài uy tín như một “thương hiệu” để chiêu sinh, giáo sư còn là thủ lĩnh của phong trào hướng đạo nên những thanh niên trí thức yêu nước rất ủng hộ.

Trong các buổi trang bị kiến thức về quân sự do ông giảng dạy, hay các buổi nói chuyện của luật sư Phan Anh với các học viên, giáo sư Tạ Quang Bửu đã tạo điều kiện đưa các tài liệu tuyên truyền về Việt Minh cho học viên đọc. Một nhóm học viên làm tổ chức Việt Minh nòng cốt trong Trường TNTT gồm năm người: Nguyễn Kèn (tức Nguyễn Thế Lâm), Lê Khánh Khang,Võ Quang Hồ, Đặng Văn Việt, Phan Hàm được lập ra và lấy tên là “’Việt Minh Thuận Hóa”.

Đến “người của hoàng gia”

Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Huế là đầu não của tập đoàn phong kiến ở VN, gia đình quan lại, hoàng gia... đều sinh sống và làm việc tại đây. Huế cũng là nơi đồn trú của quân đội Nhật lên đến 5.000 sĩ quan và binh lính do cố vấn tối cao Yokohama chỉ huy, đó là chưa kể hàng vạn lính khố xanh, khố vàng, khố đỏ... của hoàng gia triều Nguyễn, không ít người ngày đó cho rằng cuộc tổng khởi nghĩa ở Huế sẽ rất khó khăn. Thế nhưng...

Từ ngày 18-8, lực lượng khởi nghĩa đã giành được chính quyền ở Phú Lộc, rồi Phong Điền, Hương Thủy, Phú Vang... cũng thắng lợi như chẻ tre, vì có ai ngờ tỉnh có sáu huyện thì đã có bốn trưởng huyện là nội ứng của cách mạng!

Cho đến chiều 21-8, lực lượng tự vệ đã làm chủ tình hình vòng ngoài đồn Mang Cá và sáng 22-8 đã chiếm giữ bờ trái cầu Trường Tiền. Ngay chính vua Bảo Đại cũng rất hoang mang nhưng không thể làm được gì, vì chính trong hoàng tộc, hoàng gia đã có không ít người chọn đi theo con đường của dân tộc...

Ông Vĩnh Mẫn, năm nay đã 75 tuổi, sống ở Vĩ Dạ, những ngày tháng 8-1945 sôi sục ấy ông mới chỉ là một chú bé liên lạc 15 tuổi cho ủy ban khởi nghĩa. Vĩnh Mẫn là con trai thứ ba của cụ Bửu Trác (cụ Bửu Trác là cháu nội vua Hiệp Hòa) - thời vua Khải Định, cụ Bửu Trác là quan ngự tiền hộ giá, sau được thăng đến thống chế nhất phẩm (nhân vật thứ hai trong triều đình sau nhà vua). Nếu cơ cuộc bấy giờ xoay khác đi, rất có thể cụ Bửu Trác đã nối ngôi vua sau khi vua Khải Định qua đời và ông Vĩnh Mẫn đã là hoàng tử!

Theo ông Vĩnh Mẫn, không chỉ riêng ông mà cả người anh trai là Vĩnh Tập cũng tham gia cách mạng rất sớm, gia nhập đơn vị tiếp phòng quân Huế và hi sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ Huế khi Pháp tái chiếm (1947) lúc vừa tròn 20 tuổi. Sau này những người cùng thời kể lại rằng đại tướng Nguyễn Chí Thanh hồi ấy rất yêu mến và quan tâm đến Vĩnh Tập, bởi phẩm chất thông minh và sự nhiệt tình trong hoạt động của chàng trai hoàng tộc đi theo cách mạng...

Lịch sử luôn có những điều thật thú vị. Ông Tôn Thất Hoàng, con trai quan thượng thư Tôn Thất Quảng, nhớ lại: là đại diện của hoàng tộc triều Nguyễn nhưng những ngày tổng khởi nghĩa chính ông lại được cách mạng tin tưởng cử đi bảo vệ đoàn đại diện chính phủ từ Hà Nội vào tiếp nhận kim ấn nặng 10kg vàng ròng và chiếc trường kiếm với bao kiếm bằng vàng nạm ngọc - biểu tượng quyền lực tối cao của hoàng gia. Ông Trần Huy Liệu, đại diện chính quyền nhân dân, trực tiếp nhận báu vật này từ tay hoàng đế cuối cùng của nhà Nguyễn trong sự bảo vệ cẩn mật của hoàng tộc!...

Rất nhiều câu chuyện như thế của 60 năm về trước bây giờ nghe kể lại cứ như thấy trước mắt mình hình ảnh của những con người trẻ tuổi, bất kể hoàn cảnh xuất thân. Họ từ bỏ cuộc sống nhung lụa của hoàng gia, hoàng tộc, quan quyền đi theo ngọn cờ độc lập. Và cách mạng chính là  mối tình đầu của cuộc đời họ!

Đối với thần dân đất kinh thành Huế, những câu chuyện kỳ lạ về những ngày cướp chính quyền thật không thể nào quên vì mỗi số phận con người đều ẩn chứa một phần lịch sử...

Qua những tư liệu, nhiều người vẫn nghĩ lá cờ quẻ ly của chính quyền Nam triều trên kỳ đài trước Ngọ Môn được hạ xuống và thay bằng lá cờ đỏ sao vàng cách mạng diễn ra vào ngày Huế tổng khởi nghĩa thắng lợi 23-8-1945.

Thực tế lá cờ đỏ sao vàng đã được treo lên kỳ đài Huế trước đó hai ngày: 21-8-1945 và một trong hai người dũng cảm ấy là con quan tổng đốc...

Con quan tổng đốc treo cờ đỏ sao vàng lên kỳ đài!

Sở dĩ có chuyện treo cờ sớm trước ngày Huế khởi nghĩa như thế vì ngay sau khi nghe tin Hà Nội tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công vào ngày 19-8, nhân dân các huyện Phong Điền, Phú Lộc... của tỉnh Thừa Thiên cũng đã nổi dậy giành được chính quyền và hai chàng trai của Trường Thanh niên tiền tuyến (TNTT) được lệnh hạ cờ quẻ ly, treo cờ đỏ sao vàng lên kỳ đài Huế.

Lá cờ đỏ sao vàng ấy rộng bằng hai gian nhà, trải ra như tấm thảm lớn được cuộn tròn lại và gác lên hai chiếc xe đạp của hai chàng thanh niên đẹp trai trong quân phục chỉnh tề. “Calô hai sừng đội đầu, quần kaki kiểu kỵ mã vàng óng, đôi ghệt cao cổ của ngự lâm quân. Tất cả binh lực là khẩu barillet to bằng bàn tay và sáu viên đạn...” - ông Đặng Văn Việt, con quan tổng đốc Nghệ An (sau này là trung đoàn trưởng trung đoàn 174, mệnh danh là “Đệ tứ quốc lộ đại vương” vì chuyên đánh quân Pháp trên trục đường số 4 Cao - Bắc - Lạng), học viên Trường TNTT, nhớ lại.

Cả hai thanh niên đẩy hai chiếc xe đạp chở lá cờ tiến về phía kỳ đài. Tiểu đội lính dõng gác kỳ đài và làm nhiệm vụ đốt pháo lệnh báo giờ răm rắp làm theo lệnh: hạ cờ Nam triều xuống, buộc cờ vào dây, qua ròng rọc đưa cờ đỏ sao vàng lên cao. Lúc ấy là 2g chiều 21-8, ông Việt còn nhớ có một chiếc máy bay hai thân cánh bạc sơn quốc kỳ Mỹ lượn ba vòng quanh cột cờ nghiêng cánh như vẫy chào rồi bay hút ra phía biển...

Lá cờ đỏ sao vàng trên đỉnh kỳ đài mang một ý nghĩa trọng đại báo hiệu sự chấm dứt của một vương triều trị vì 143 năm và hàng ngàn năm của chế độ phong kiến. đất nước sang trang sử mới của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Mấy hôm sau, vua Bảo Đại làm lễ thoái vị, trao ấn kiếm cho đại diện chính phủ trung ương từ Hà Nội vào, nhà vua tuyên bố “thà làm dân một nước tự do hơn làm vua một nước nô lệ”, lại có nghi thức hạ cờ vàng và treo cờ đỏ sao vàng chính thức lên đỉnh cột.

Trong buổi chiều ấy, một viên lãnh binh khố vàng (biết ông Đặng Văn Việt và Nguyễn Thế Lương là người hạ cờ hôm trước) đến cạnh ông Việt và bảo: “Hôm các anh đến hạ cờ nhà vua, cả đại đội khố vàng chúng tôi nằm phục kích dọc cổng thành Ngọ Môn với hơn 100 tay súng chĩa về các anh. Tôi vào xin ý kiến nhà vua, ngài bảo: “Chớ, chớ! Việt Minh đấy, chúng mi nổ súng thì tao chết trước đấy”. May quá, lính chỉ nằm im cho đến khi các anh đi khuất”.

Trước ngày diễn ra lễ thoái vị của nhà vua, ngày 29-8 một toán lính Pháp đã nhảy dù xuống Hiền Sĩ (cách Huế chừng 20km về phía tây bắc) dưới danh nghĩa phái bộ quân đồng minh nhưng thật ra để móc nối liên lạc thực hiện âm mưu trở lại tái chiếm VN. Ông Phan Tử Lăng, giám đốc Trường TNTT, được phái đi gặp toán nhảy dù này và trở về báo cáo tình hình với Ủy ban hành chính kháng chiến.

Trong lúc ấy, anh em của Trường TNTT đã nhận định: đây là bọn thực dân đội lốt đồng minh để quay lại xâm lược. Không đợi lệnh của ông Lăng, anh em chủ động đi... bắt sống toán nhảy dù này. Ông Nguyễn Thế Lương, người đã cùng ông Việt treo cờ hôm trước nay được cử làm “chỉ huy” đi bắt lính dù Pháp. Thành viên của nhóm “đi bắt Tây” này còn có Nguyễn Trung Lập, Đặng Văn Việt, Hoàng Xuân Bình, Lê Thiệu Huy, Đặng Văn Châu, Hà Đổng, Phan Văn Diên...

Cả toán đi bắt Tây ra phố mượn một chiếc ôtô chạy than, đến gần Hiền Sĩ xe không qua cầu được, anh em nhảy xuống đi bộ, “đi hàng hai bước đều, vừa đi vừa hát hành khúc, súng mang chéo sau lưng. Anh Huy cầm cờ đỏ sao vàng đi trước...”. Cả toán Tây nhảy dù bị bắt gọn bởi mưu mẹo của nhóm anh em TNTT, khi ông Phan Tử Lăng quay lại truyền lệnh của ủy ban bắt giữ toán Tây này thì mọi việc đã được anh em giải quyết xong!

Lên đường Nam tiến: một cây súng trường và 16 viên đạn!

Cách mạng thành công, Trường TNTT được đổi tên thành Trường Võ bị Thuận Hóa, dời địa điểm sang Trường Quốc học (và sau đó dời thêm vài địa điểm khác) nhưng mọi người vẫn quen tên gọi cũ là TNTT.

Tháng 9-1945 là một mùa khai trường kỳ lạ ở Huế. Các lớp học vắng lặng, học sinh chuẩn bị thi thành chung và tú tài đều bỏ thi, học sinh chuyên khoa bỏ lớp, tất cả nô nức ghi tên gia nhập giải phóng quân (GPQ) Huế. Trường Võ bị Thuận Hóa lại là nơi tiếp nhận, tập hợp các GPQ. Những học viên của trường nay được công nhận là sĩ quan cách mạng, làm bộ khung huấn luyện, tổ chức lực lượng quân đội chính qui của nhà nước non trẻ chuẩn bị cho cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc.

Chính nhiệt tình cách mạng và kiến thức quân sự được học hành tại trường đã khiến những chàng trai TNTT hôm qua đảm đương được nhiệm vụ mới: làm nòng cốt cho lực lượng GPQ. Những thanh niên Huế gia nhập GPQ được phiên chế thành những trung đội, chỉ một thời gian ngắn đã có 25 trung đội được thành lập, trung đội trưởng của các trung đội này đều là sĩ quan TNTT, trung đội phó là những cựu binh sĩ (hạ sĩ quan) đã đi theo cách mạng.

Đại tá Phan Hạo hồi ấy là trung đội trưởng trung đội 1 nhớ lại ngày ông nhận lệnh lên đường Nam tiến để hỗ trợ mặt trận Sài Gòn: trước khi lên đường, ông và trung đội trưởng trung đội 3 Đoàn Huyên (sau này là giáo sư, thiếu tướng QĐNDVN) được gọi lên gặp ủy viên quốc phòng Trung bộ (phụ trách quân sự - quốc phòng cả khu vực miền Trung) Nguyễn Chánh.

Ông Chánh người Quảng Ngãi, đã từng lãnh đạo thắng lợi cuộc khởi nghĩa Ba Tơ, ngay từ những ngày tháng ấy đã thấy trước cuộc kháng chiến sẽ lâu dài và rất cam go. Sau khi hỏi han tình hình chuẩn bị Nam tiến, anh Hạo báo cáo mỗi người lính chỉ được trang bị một khẩu súng trường và 16 viên đạn, chỉ huy trung đội thì trang bị súng carbine và hai băng đạn nhưng tinh thần thì rất lạc quan vì ai cũng nghĩ vào Nam đánh Pháp xong sẽ “duyệt binh giữa Sài Gòn”. Hùng khí của cuộc khởi nghĩa thắng lợi trọn vẹn đã nhân lên niềm lạc quan hừng hực trong những người GPQ chuẩn bị Nam tiến.

Hai trung đội GPQ 1 và 3 lên đường vào Sài Gòn, một tháng sau đại đội Nam tiến thứ hai lại lên đường do Nguyễn Thế Lâm chỉ huy lên tàu vào Sài Gòn, nhưng đến ga Tháp Chàm (Phan Rang) thì được lệnh quay lại bởi ngày 23-10-1945 quân Pháp tấn công Nha Trang. Quân và dân Thừa Thiên - Huế một lần nữa gửi con em vào chi viện cho chiến trường Nam Trung bộ.

Ông Lê Đình Bân tham gia chiến đấu ở mặt trận Nha Trang và bị thương, sau đó ra mặt trận Qui Nhơn, về liên khu 5, về huấn luyện ở Trường Lục quân Quảng Ngãi, ra Việt Bắc rồi vào Nam đánh Mỹ, mãi đến đại thắng mùa xuân 1975 ông mới về lại Huế, người mẹ của ông, cụ bà Nguyễn Thị Hựu, khi ấy đã 85 tuổi.

Cũng cần nhắc thêm một chút về người sĩ quan của Trường TNTT này bởi đến ngày độc lập, gia đình ông đã có bốn liệt sĩ hi sinh cho cách mạng. Vợ và con ông Bân sống ở Hà Nội, hoàn cảnh bấy giờ không thể đưa cả gia đình về Huế nên một mình ông mang balô về lại quê hương với người mẹ già 30 năm ngóng chờ con.

Người con trai làng Triều Sơn Tây khi tham gia cách mạng vừa ngoài 20 tuổi, ngày về tóc đã bạc quá nửa mái đầu, trong căn nhà nhỏ, ngày ngày ông Bân nấu cơm nuôi mẹ già để báo hiếu.

Cho đến bây giờ khi về gặp ông ở làng Triều Sơn Tây, con cái ông đều thành đạt, vợ ông vẫn sống ở Hà Nội, riêng ông một mình lặng lẽ với làng xưa, viết sử của làng và gia phả dòng tộc, sớm hôm chăm lo hương khói bàn thờ gia tiên. Trên bàn thờ ấy tôi nhìn thấy những tấm hình của người thân ông đã nằm lại dọc đường kháng chiến, tất cả đều rất trẻ...

Cuộc khởi nghĩa tháng tám ở Nam bộ diễn ra muộn hơn miền Bắc và miền Trung. Ngọn cờ hồng trên chiến lũy ám khói súng, trong ánh đuốc bập bùng, những cô gái, chàng trai Nam bộ đã cất cao lời thề...

LÊ ĐỨC DỤC

 

Nơi giành được chính quyền đầu tiên ở Nam bộ

Theo các tư liệu lịch sử ghi nhận, thời điểm Cách mạng Tháng Tám thành công ở các vùng trong nước có khác nhau. Ở miền Bắc (Hà Nội) ngày 19-8, miền Trung (Huế) 23-8 và Nam bộ (Sài Gòn) 25-8-1945.

Thế nhưng trước đó có một địa danh ở Nam bộ đã tổ chức cướp chính quyền thành công vào đêm 22 rạng sáng 23-8-1945. Người chỉ huy trận đánh đêm ấy đang ở tuổi 26...

Thí điểm khởi nghĩa ở Nam bộ

Ngay trong đêm 22-8-1945, người dân tỉnh Tân An (ngày nay là tỉnh Long An) hầu như không ngủ được. Tiếng trống khởi nghĩa vang từ xã này sang xã khác, quận này sang quận khác, tin cướp chính quyền thắng lợi tới tấp bay về, càng về khuya càng dồn dập liên hồi.

Tờ mờ sáng 23-8-1945, trên các nẻo đường đổ về thị xã Tân An, lớp lớp người xếp thành hàng tư với rừng tầm vông vạt nhọn, rừng cờ đỏ sao vàng, cờ búa liềm giương cao rầm rập tiến vào sân banh thị xã. Đoàn người vừa đi vừa hô to các khẩu hiệu: VN độc lập muôn năm! Chính phủ VN muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm... Trên lễ đài, đại diện Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Tân An làm lễ ra mắt đồng bào, chủ tịch Nguyễn Văn Trọng tuyên bố: Chính quyền Tân An đã về tay nhân dân!

Trước đó, Xứ ủy Nam bộ đã mở hội nghị tại Chợ Đệm phân tích tình hình của Nam bộ lúc ấy là rất phức tạp. Nhiều ý kiến đề xuất: đêm 22-8 Sài Gòn sẽ tiến hành khởi nghĩa để sáng sớm 23-8 huy động lực lượng chính trị vũ trang khoảng 1 triệu người xuống đường ủng hộ Ủy ban hành chính lâm thời Nam bộ và tuyên bố tổng khởi nghĩa thành công. Sau đó các tỉnh khác ở Nam bộ sẽ theo hình mẫu của Sài Gòn mà tiến hành khởi nghĩa.

Nhưng có ý kiến cho rằng quân Nhật ở Sài Gòn rất đông, ngay cả lực lượng đồng minh Anh - Ấn cũng buộc quân Nhật cùng chống cách mạng, nếu Nhật can thiệp thì khởi nghĩa ở Sài Gòn dễ thất bại... Cuộc tranh cãi khá quyết liệt. Cuối cùng, đồng chí Trần Văn Giàu đưa ra một giải pháp: giao cho Tân An - nằm ngay bên cạnh cửa ngõ vào Sài Gòn - khởi nghĩa thí điểm, từ đó rút kinh nghiệm để “bấm nút” cho Sài Gòn và các tỉnh tiến hành khởi nghĩa. Ý kiến này được đa số tán thành.

Giọng trầm ấm, ông Hai Lê (Lê Văn Tưởng) kể lại: “Lúc đó tôi 26 tuổi, đang tham gia sinh hoạt tại chi bộ làng Thạnh Lợi, quận Thủ Thừa, tỉnh Tân An. Ngày 13-8-1945, Tỉnh ủy Tân An tổ chức hội nghị mở rộng tại nhà ông hội đồng Huấn ở xã Hương Thọ Phú. Tại cuộc họp này, các đồng chí trong Tỉnh ủy Tân An thống nhất rút tôi về làm thường vụ phụ trách quân sự quận Thủ Thừa để chuẩn bị lực lượng cướp chính quyền.

Tôi nhanh chóng quay về làng và từ giã các đồng chí trong chi bộ Thạnh Lợi. Các anh ở làng chia tay để tôi đi làm chuyện đại sự mà còn góp mỗi người vài đồng, được tất cả 13 đồng làm lộ phí và dặn dò ghê lắm. Chia tay gia đình, xóm làng, tôi chuyển ra quận công tác...”.

Ban đầu Hai Lê rất lo, mình có quá trẻ, lại ít kinh nghiệm quân sự, được giao đánh trận đầu mà thất bại thì tội lớn lắm!

Sau khi bàn bạc với Huyện ủy Thủ Thừa, Hai Lê cho tổ chức ngay lực lượng chiến đấu là những thanh niên tiền phong trong các thôn xóm tập trung lại tập luyện võ thuật, luyện kiếm, phóng phi tiêu, luyện dao găm, tự tạo vũ khí thô sơ, tập đội hình chiến đấu. Giặc thì súng ống rần rần, còn đội hình chiến đấu của Hai Lê luyện tập như trong phim kiếm hiệp vậy!...

Anh nông dân đối mặt với quận trưởng!

Tới chiều 22-8, các xã quanh quận Thủ Thừa đồng loạt đánh mõ, đánh trống báo động vang trời theo kế hoạch của Ủy ban khởi nghĩa. Trong lúc địch đang còn hoang mang chưa biết việc gì xảy ra, tiếng trống tiếng mõ xuất phát từ đâu thì Hai Lê đã ra lệnh cho lực lượng quân sự do anh chỉ huy bắt đầu “hành quân”.

Hai Lê mặc đồ kaki vàng, mang cây súng rulô cùng tốp chiến đấu xông thẳng tới dinh quận. Tới cổng dinh quận, đội hình khựng lại vì lính khố xanh cùng súng ống dàn đầy, nghe tiếng mõ tiếng trống chúng còn hoang mang hơn và tư thế luôn sẵn sàng nổ súng. Chỉ với một khẩu súng ngắn của Hai Lê thì làm sao địch lại được bọn lính trang bị toàn súng dài của dinh quận - mục tiêu số 1 cho cuộc cướp chính quyền?

Nhưng Hai Lê đã có cách riêng của mình: anh bước thẳng vào dinh quận. Bọn lính canh thấy anh mặc đồ kaki nai nịt gọn gàng, bên hông kè kè súng lục, không hiểu anh thuộc “sắc lính” gì nên im re cho vào, nhưng súng vẫn chĩa thẳng vào anh. Anh bước vào gặp quận Thọ.

Trước mặt quan phụ mẫu một thời làm mưa làm gió cả vùng Thủ Thừa, lính canh súng ống còn đầy, vậy mà Hai Lê bình thản tuyên bố xanh rờn: “Ông quận Thọ à, hôm nay cách mạng về cướp chính quyền. Kể từ 8g tối nay, chúng tôi với đầy đủ binh lực, súng ống hùng mạnh đã bao vây toàn khu vực. Nếu muốn an toàn, ông quận phải ra lệnh cho binh lính giao nộp vũ khí, còn ông phải giao ngay cho cách mạng chìa khóa tủ sắt tiền công nho và các tủ giấy tờ khác nữa...”.

Quận Thọ há hốc miệng, người chỉ huy cách mạng này sao khí phách quá, chống lại chắc chỉ có chết! Quận Thọ tự nhiên thấy mình “nhỏ” hơn anh thanh niên tuổi 26 nên “dạ... dạ...” lí nhí và bàn giao dinh quận ngay. Mãi sau này nhiều người hỏi: “Lỡ quan quận làm cương kêu lính vào bắt thì sao?”. Hai Lê cười: “Thì đánh luôn chứ sao, đội tự vệ đã dàn quân cả rồi, giáo mác, kiếm, tầm vông cũng đánh được mà!”.

Chiếm dinh quận thắng lợi, Hai Lê cùng lực lượng dân quân tự vệ, thanh niên địa phương được thế xông thẳng vào các đồn Thạnh Lợi, Bình Hòa, Mỹ Thạnh Đông, Mỹ Quí... để tịch thu súng đạn. Tổng số súng thu được tại các đồn lên đến trên 40 cây súng các loại. Số súng này được đưa về quận để thành lập một đại đội dân quân cách mạng đầu tiên của quận.

Được tin Hai Lê đã tổ chức chiếm dinh quận và giải giới vũ khí lính canh thành công mà không tốn một viên đạn, hàng ngàn nông dân từ các xã Mỹ Lạc, Bình Đức, Mỹ An Phú, Bình Phong Thạnh... rùng rùng kéo về khu vực sân banh để mittinh và nghe cách mạng nói chuyện. Tại buổi mittinh, Hai Lê thay mặt ban khởi nghĩa dõng dạc thông báo với bà con: Việt Minh đã lên nắm chính quyền!... Cả rừng người tung hô như muốn làm vỡ tung cả không gian một làng quê...

 

VŨ BÌNH - THẾ ANH

(báo Tuổi Trẻ)

  1. You are here:  
  2. Home
  3. CHUYÊN ĐỀ
  4. Sự kiện
  5. Quốc khánh 2/9/1945
Copyright © 2026 Lịch Sử Việt Nam - Vietnam history. All Rights Reserved. Designed by JoomlArt.com. Joomla! is Free Software released under the GNU General Public License.