Sidebar

  • TRANG CHÍNH
  • LƯỢC SỬ TÓM TẮT
  • CHUYÊN ĐỀ
  • CỔ SỬ
  • THƯ VIỆN
  • ẢNH LỊCH SỬ
Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history
  • TRANG CHÍNH
  • LƯỢC SỬ TÓM TẮT
  • CHUYÊN ĐỀ
    • Nhân vật
    • Sự kiện
    • Hiện vật
    • Di tích
    • Hồi ký
  • CỔ SỬ
    • Đại Việt sử ký toàn thư
    • Huyền sử, dã sử
  • THƯ VIỆN
  • ẢNH LỊCH SỬ
    • Việt Nam triều Nguyễn

Quốc khánh 2/9/1945

Quốc khánh 2/9/1945

Lễ quốc khánh tại Sài Gòn

Details
Quốc khánh 2/9/1945
07 September 2006
Hits: 7042

Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cùng lúc đó, lễ độc lập cũng được tổ chức tại Sài Gòn khi nền độc lập bị bủa vây tứ phía.

Người dân vẫn đứng lên, dù súng đã nổ trong lễ độc lập tại Sài Gòn. Theo tiếng gọi non sông, kháng chiến bắt đầu...

Ngày 31-8-1945, trung ương điện vào cho biết lúc 2 giờ chiều 2-9 tại Hà Nội, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ ra mắt quốc dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Ủy ban Hành chánh lâm thời Nam bộ quyết định tổ chức một cuộc mittinh và diễu hành thật lớn nhằm biểu dương lực lượng toàn dân đoàn kết xung quanh chính quyền cách mạng.

 

Image
Đường Cộng Hòa trước dinh Norodom (nay là đường Lê Duẩn, dinh Độc Lập)

Lễ đài lễ độc lập 2-9-1945 tại Sài Gòn đặt trên đường Cộng Hòa (nay là đường Lê Duẩn), ngay phía sau nhà thờ Đức Bà. Hầu hết người dân Sài Gòn đều đổ ra đường, thành một biển người chưa từng thấy ở thành phố này. Cờ rợp trời: cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc, cờ các nước đồng minh, cờ của các đoàn thể. Khẩu hiệu giăng đầy các con đường lớn: "Việt Nam dân chủ cộng hòa muôn năm!", "Đả đảo thực dân Pháp!", "Độc lập hay là chết!"… bằng năm thứ tiếng: Việt, Hoa, Anh, Pháp, Nga.

nhathoducba1945s
Phía sau nhà thờ Đức Bà năm 1945

Lễ độc lập cử hành đúng 14g chiều. Nhưng mới 12g trưa, dưới mặt trời đứng bóng, các đoàn thể dân chúng, các toán dân quân từ trong các trụ sở ở Châu Thành, từ các vùng ngoại ô kéo về đại lộ Cộng Hòa (tức đại lộ Norodom vừa đổi tên) tập trung sau nhà thờ Đức Bà. Buổi lễ bắt đầu bằng nghi thức chào quốc kỳ. Lúc đó, bản Tiến quân ca của Văn Cao chưa được phổ biến trong Nam nên ban quân nhạc cử bài Quốc tế ca và bản Thanh niên hành khúc, nhạc của Lưu Hữu Phước, lời của nhóm Hoàng Mai Lưu: "Này anh em ơi, tiến lên dưới cờ giải phóng! Đồng lòng cùng đi! Đi! Đi! Sá gì thân sống!...".

Theo thông báo của ban tổ chức buổi lễ, đúng 14g chiều hôm ấy, tại quảng trường Ba Đình ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đài tiếng nói Việt Nam (lúc đó đặt tại Bạch Mai nên còn gọi là Đài Bạch Mai) sẽ trực tiếp truyền thanh buổi lễ ở Hà Nội trên làn sóng 32m. Ban tổ chức sẽ tiếp sóng Đài Bạch Mai để đồng bào Sài Gòn nghe bản Tuyên ngôn độc lập qua hệ thống loa phóng thanh đặt dọc theo đường Cộng Hòa và các ngả đường gần đó.

Tuy nhiên, việc tiếp sóng không thành công. Nửa giờ trôi qua, dân chúng bắt đầu bàn tán xôn xao. Một số người cảnh giác đặt ra nghi vấn: phải chăng có kẻ phá hoại? Mặc dù hoài nghi này không có chứng cớ, song trong bối cảnh lúc đó nó vẫn thuyết phục được nhiều người. Mãi về sau này người ta mới biết lý do của sự cố này: đài phát của ta quá yếu, máy thu của ta quá cũ, thời tiết chiều hôm ấy lại xấu.

Để trấn an quần chúng, ban tổ chức buổi lễ đề nghị ông Trần Văn Giàu (tức giáo sư Trần Văn Giàu ngày nay) phát biểu. Ông Trần Văn Giàu lúc đó là bí thư Xứ ủy Nam bộ, chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Nam bộ, chủ tịch Ủy ban Hành chánh lâm thời Nam bộ… Đây là điều nằm ngoài dự kiến của chương trình buổi lễ.

Ông Trần Văn Giàu suy nghĩ vài phút, ghi vội lên giấy mấy ý chính, rồi bước lên lễ đài, ứng khẩu một bài diễn văn. Lúc đó, các nhà báo chưa sử dụng máy ghi âm nên ghi lại bài diễn văn bằng phương pháp tốc ký để công bố toàn văn trên các báo xuất bản ở Sài Gòn ngày hôm sau.

Mở đầu, ông Trần Văn Giàu tuyên bố một đổi thay lớn trong lịch sử nước nhà sau Cách mạng Tháng Tám: "Việt Nam từ một xứ thuộc địa đã trở thành một nước độc lập. Việt Nam từ một đế chế đã trở thành một nước cộng hòa. Việt Nam đương tiến bước trên đường sống".

Song cuộc hồi sinh của dân tộc đang bị kẻ thù đe dọa: "Kẻ địch toan tính một cuộc âm mưu gác lại ách nô lệ trên cổ 25 triệu đồng bào... Chúng tôi đã nắm được bằng cớ chắc chắn là họ toan dùng võ lực thình lình lật đổ chính phủ dân chủ cộng hòa để đặt lại một quan toàn quyền như thuở trước". Do đó, ông khuyên đồng bào hãy đề cao cảnh giác: "Mừng thắng lợi, nhưng đồng bào chớ say sưa vì thắng lợi. Bởi vì Việt Nam yêu quí của chúng ta đương gặp một tình cảnh nguy nan. Không khéo lo, nước ta dân ta có thể bị tròng lại ách nô lệ".

Ông Trần Văn Giàu hỏi những người dự lễ: "Đồng bào ở đây có ai thừa nhận một quan toàn quyền cai trị xứ ta không? Có ai chịu bó tay để cho chế độ thực dân - ra mặt hay giấu mặt - trở lại không?". Sau mỗi câu hỏi của ông, cả triệu người đồng thanh đáp lại: "Không! Không! Không!" vang dội một góc trời.

Tiếp sau sự đồng tâm ấy, ông Trần Văn Giàu nhắc lại những điều đã nói với đại diện chính phủ Pháp:

"Việt Nam dân chủ cộng hòa sẵn sàng ký kết với Cộng hòa Pháp những hiệp ước cộng tác về kinh tế, về văn hóa, luôn về binh bị nữa, nếu Pháp công khai thừa nhận quyền độc lập của chúng tôi.

Nhược bằng trái lại, các người kể chúng tôi như tôi mọi thì liên hiệp với dân chúng cách mạng Pháp, chúng tôi thề chết (chứ) không nhượng bộ trước bất cứ một sự hăm dọa hay khiêu khích nào". Thay mặt hàng triệu người dân Nam bộ, ông nói lên quyết tâm bảo vệ tổ quốc: "Chúng ta thề cương quyết đứng bên cạnh chánh phủ, chống mọi sự xâm lăng, dầu chết cũng cam lòng".

Ông kết thúc bài diễn văn bằng lời kêu gọi: "Quốc dân hãy sẵn sàng chiến đấu!... Đứng lên! Ngày độc lập bắt đầu từ nay! Tiến tới, vì độc lập, vì tự do, tiến tới mãi! Không một thành lũy nào ngăn nổi chí của muôn dân trên đường giải phóng!".

Một người tham dự lễ độc lập năm ấy ở Sài Gòn nhận xét: "Tuy ứng khẩu (ông không chuẩn bị trước bài phát biểu) nhưng ý tưởng của ông sâu sắc, giọng của ông hùng hồn, bài nói của ông thu hút tâm hồn cả triệu người có mặt trong buổi lễ". Trong kho tàng các bản hùng văn của mảnh đất phương Nam, bên cạnh bài hịch của Trương Định, văn tế của Đồ Chiểu..., bài diễn văn ngày 2-9-1945 của Chủ tịch Ủy ban Hành chánh lâm thời Nam bộ Trần Văn Giàu giữ một vị trí xứng đáng.

Sau bài diễn văn ứng khẩu của chủ tịch Ủy ban hành chánh lâm thời Nam bộ Trần Văn Giàu, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch - bộ trưởng Bộ Y tế - thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tuyên thệ “cương quyết lãnh đạo đồng bào giữ nước, vượt khó khăn nguy hiểm, xây đắp độc lập hoàn toàn cho Việt Nam”.

 

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử mấy nghìn năm của nước ta, một đại diện của Nhà nước trung ương long trọng cam kết với nhân dân.

Sau đó, tới lượt đại biểu của nhân dân đọc lời thề:

“Chúng tôi, toàn thể nhân dân Việt Nam, cương quyết một lòng ủng hộ chánh phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nếu Pháp đến xâm lược Việt Nam lần nữa, chúng tôi quyết:

- Không đi lính cho Pháp.

- Không làm việc cho Pháp.

- Không bán lương thực cho Pháp.

- Không dẫn đường cho Pháp.

Xin thề!”.

Cả triệu người đưa nắm tay lên nhất loạt hô to: “Xin thề! Xin thề! Xin thề!” như tiếng sấm vang rền.

 

Buổi lễ mừng độc lập kết thúc bằng cuộc tuần hành trên các đường phố lớn của khu trung tâm Sài Gòn.

Đi đầu là các toán thanh niên tiền phong gọn gàng trong đồng phục quần soọc, áo sơmi ngắn tay, tay cầm tầm vông vạt nhọn, thắt lưng đeo dao găm và cuộn dây thừng, đi nhịp nhàng theo tiếng hô “một... hai... một... hai”. Tiếp theo là đoàn viên Tổng công đoàn Nam bộ. Cùng với thanh niên tiền phong, đây là lực lượng nòng cốt trong khởi nghĩa giành chính quyền trong tuần trước.

Rồi đến bốn sư đoàn dân quân cách mạng, đây là những đơn vị vũ trang được thành lập một cách cấp tốc từ nhiều thành phần khác nhau: công nhân, thanh niên, học sinh lần đầu tiên gia nhập quân đội, cựu binh sĩ thời Pháp, Nhật. Nhà báo Trần Tấn Quốc miêu tả: “Y phục của dân quân toàn là quần đùi áo ngắn, người mang giày, người chơn không; vũ khí thì từ liên thanh nhẹ đến súng hai nòng, từ trường kiếm đến dao găm”.

GS Trần Văn Giàu nhớ lại: “Y phục đủ thứ, vũ khí thô sơ là phần nhiều, nhưng sức mạnh vô song của ta không phải ở vũ khí và y phục, mà chính là sự đoàn kết toàn dân và lòng hi sinh của các chiến sĩ cho Tổ quốc”. Đi sau cùng là các toán quần chúng đại diện các địa phương, tôn giáo, tầng lớp xã hội, ngành nghề...

Ở đầu mỗi toán là bảng ghi tên của toán: “Nông dân Bà Điểm”, “Học sinh trường X”, “Phật tử chùa Y”... Mọi người đi trong hàng ngũ ngay ngắn, vừa đi vừa hô vang các khẩu hiệu theo sự điều khiển của người toán trưởng.

Do lượng người tham gia diễu hành quá đông, ban tổ chức chia ra nhiều lộ trình: một nhánh từ đại lộ Cộng Hòa (nay là đường Lê Duẩn) theo đường Ba Lê Công Xã (nay là đường Đồng Khởi), một nhánh rẽ sang đường Yersin (nay là đường Nguyễn Du), sau đó đổ xuống các đường Thủ Khoa Huân (nay là đường Nguyễn Huệ), Phan Bội Châu (nay là đường Lê Lợi) rồi tỏa ra các đường phố chính của Sài Gòn.

Image
Toà nhà hãnh xe Jean Comte (màu trắng) nơi người Pháp nấp, bắn vào nhân dân

Khi những toán cuối cùng sắp rời đường Cộng Hòa thì thình lình có tiếng súng, ban đầu lẻ tẻ, sau nổ vang nhiều nơi. Từ trên lầu Hãng ôtô Jean Comte (địa điểm Diamond Plaza ngày nay) và một số nhà lầu xung quanh nhà thờ Đức Bà, một số người Pháp núp sau các cánh cửa hé mở nhắm bắn những người đang diễu hành hòa bình. Các đội viên cứu thương nhanh chóng băng bó tại chỗ những người bị thương và đưa vào bệnh viện cấp cứu những người bị nặng hơn.

Trong khi quần chúng tiếp tục cuộc diễu hành theo lộ trình đã định, nhiều dân quân, thanh niên tiền phong... xông lên các tầng lầu, nơi vừa phát ra tiếng súng. Từ trên lễ đài, một thành viên ban tổ chức nhắc nhở anh em hãy bình tĩnh, chỉ bắt giữ những kẻ bắn lén, tuyệt đối không được đánh đập hay giết chết. Mệnh lệnh ấy được chấp hành nghiêm chỉnh. Chỉ một số nơi, chúng cố thủ trong nhà, buộc lòng anh em phải nổ súng tấn công để trấn áp.

Sau hơn ba giờ chiến đấu, trật tự đã được lập lại. Tổng kết có 47 người dân chết và bị thương. Phía Pháp có năm người chết và khoảng 30 người bị thương. Khoảng 1.000 người Pháp bị tình nghi có tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào cuộc nổ súng đã bị tạm giữ để điều tra. Theo thông cáo ngày 3-9, Ủy ban hành chánh lâm thời Nam bộ “sẽ thả bọn khiêu khích để chứng tỏ cho đồng minh ý muốn hòa bình của chúng ta, trái với cái dã tâm của bọn thực dân Pháp”.

Theo lời thú nhận của những người bị bắt, vụ nổ súng chiều 2-9 không phải là việc làm tự phát của một số người Pháp manh động, mà nằm trong một âm mưu khiêu khích vô cùng thâm độc: cố tình tạo ra xô xát có đổ máu để lấy cớ tố cáo Ủy ban hành chánh lâm thời Nam bộ bất lực, không có khả năng đảm bảo trật tự ngay tại trung tâm Sài Gòn, rồi yêu cầu phe đồng minh (cụ thể là Anh) giải tán chính quyền cách mạng, tước vũ khí lực lượng vũ trang nhân dân, buộc Ủy ban hành chánh lâm thời Nam bộ phải giao việc giữ gìn an ninh cho Anh để sau đó Anh chuyển lại cho Pháp.

Từ Kandy (Sri Lanka), tướng Anh Gracey thay vì lên án những thủ phạm đã gây ra vụ nổ súng, lại lớn tiếng chỉ trích những nạn nhân. Một ngày sau khi đến Sài Gòn, Gracey cho phép một đơn vị lính Pháp mặc quân phục của Anh, trà trộn trong đội hình của Anh đổ bộ lên Sài Gòn. Sau đó ông ra lệnh thả 1.400 lính Pháp (bị Nhật bắt giam từ cuộc đảo chính 9-3-1945) và trang bị súng ống cho số lính này cùng các người Pháp khác ở Sài Gòn.

Mặt khác, ông ra lệnh đóng cửa tất cả các báo chữ Việt (nhưng vẫn cho phép báo tiếng Pháp tiếp tục xuất bản bình thường), cấm người Việt Nam tụ họp, biểu tình, mang vũ khí (kể cả dao găm, tầm vông vạt nhọn...), ban bố tình trạng quân luật, ra lệnh giới nghiêm từ 21g30 đến 5g30 sáng. GS Trần Văn Giàu nhớ lại: “Thực dân Anh bịt miệng ta, trói tay ta để tạo điều kiện cho thực dân Pháp đánh ta”.

Chúng ta tìm mọi cách để không xảy ra một cuộc xung đột quân sự với Pháp, nhưng sau cuộc hội đàm với Cédile ngày 27-8 và vụ nổ súng ngày 2-9, chủ tịch Ủy ban hành chánh lâm thời Nam bộ Trần Văn Giàu thấy trước sau gì Pháp cũng gây hấn. Vì vậy, ông đề nghị Xứ ủy thành lập Ủy ban kháng chiến Nam bộ do ông làm chủ tịch.

Ngày 10-9, Ủy ban hành chánh lâm thời Nam bộ cải tổ thành Ủy ban nhân dân Nam bộ do tiến sĩ - luật sư Phạm Văn Bạch làm chủ tịch. Ông Trần Văn Giàu chỉ nhận chức phó chủ tịch kiêm ủy trưởng quân sự để dành thời gian chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến mà ông dự báo không thể tránh khỏi. Ông lo việc củng cố lực lượng vũ trang, sản xuất vũ khí, bố trí lực lượng, phân công người chỉ huy.

Trong tương quan lực lượng quá chênh lệch (VN giành độc lập mới được vài tuần, thiếu thốn mọi bề, còn Pháp được Anh giúp đỡ, được Mỹ ủng hộ), ông Trần Văn Giàu chủ trương chiến thuật “trong đánh, ngoài vây”: lập bốn “mặt trận tiền tuyến” ở bốn hướng nhằm bao vây địch trong nội thành càng lâu càng tốt, không cho chúng đánh nống ra ngoại thành, trong khi đó lực lượng của ta từ ngoại thành đột nhập phối hợp với lực lượng bám trụ trong nội thành liên tục tấn công địch theo cách đánh du kích.

Nhờ vậy, khi Cédile ra lệnh cho quân Pháp tấn công trụ sở Ủy ban nhân dân Nam bộ trong đêm 22 rạng 23-9, quân và dân Sài Gòn sẵn sàng đánh trả. Ngay trong đêm lịch sử ấy, ông Trần Văn Giàu viết lời kêu gọi Nam bộ kháng chiến: “Hãy nắm chặt vũ khí trong tay, xông lên đánh đuổi thực dân Pháp, cứu nước. Cuộc kháng chiến bắt đầu!”.

 

TS. PHAN VĂN HOÀNG

 

 

Trong cuốn Tại sao Việt Nam? của Archimedes Patti có nhắc đến một “ngày chủ nhật đen tối ở Sài Gòn”, ngày 2-9-1945, với một cuộc đổ máu ngay trong lễ độc lập. Thật ra đó là một thoáng mây mù báo hiệu bão tố.

Nhiệt huyết trong lòng người dân Sài Gòn vẫn chưa kịp nguội sau cuộc diễu binh cướp chính quyền ngày 25-8. Sáng 2-9, người người lại kéo nhau đi trong nhịp cuồn cuộn của bài Lên đàng tiến về phía đường Norodom (Lê Duẩn ngày nay) để dự lễ độc lập, nghe tiếp sóng Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chủ tịch.

Ngày ấy đại sứ Võ Anh Tuấn là cậu học trò Nguyễn Văn An của Trường Petrus Ký vừa hồ hởi theo bạn bè gia nhập tổ chức Thanh niên tiền phong. Áo trắng, quần xanh, huy hiệu màu vàng sao đỏ, một thanh tầm vông buộc chéo sau lưng, cậu hòa vào dòng người. 2-9, trời mưa ẩm ướt không làm cho mọi người ngưng nhịp bước chân nào. Dù chưa hiểu lắm về độc lập, về chính quyền mới, nhưng trong lòng An vẫn dậy lên một niềm sung sướng, tự hào khi lần đầu được thấy quân mình chứ không phải quân Pháp đi lại hiên ngang, tấp nập trên các đại lộ.

“Người người đông kín các con đường xung quanh nhà thờ Đức Bà. Sắp xếp thế nào đó mà đoàn của tôi lại được đứng đối diện, cách lễ đài chỉ vài chục mét. Tôi cứ khấp khởi mừng vì mình may mắn...” - ông Tuấn kể. Chộn rộn, ồn ào, nhưng cả biển người rồi cũng trở nên trật tự, yên lặng hướng về lễ đài chờ nghe tiếp sóng Tuyên ngôn độc lập.

Những tiếng rọt... rẹt... rồi sóng không tiếp được. Ông Trần Văn Giàu, chủ tịch Ủy ban hành chính lâm thời Nam bộ, đứng trên lễ đài nói thay lời hiệu triệu. Bài nói kết thúc, mọi người vỗ tay rần trời, ông vừa bước xuống lễ đài thì có tiếng súng nổ. Đạn bắn xuống từ nóc nhà của xưởng xe hơi Jean Compte (chỗ bây giờ là Diamond Plaza), bóng mấy em thiếu nhi đeo hoa, mang trống, cầm cờ đứng hàng đầu gục xuống. Tức thì, một làn sóng phẫn nộ bùng lên. Súng nổ, máu đổ không làm ai lùi lại. Mọi người kéo nhau đổ về phía người bị thương, hô nhau đi bắt Pháp gian, Việt gian.

 

Ông Trần Bạch Đằng khi ấy 20 tuổi đang đứng đầu một đoàn thanh niên, cách lễ đài 50m và rất gần khu xưởng Jean Compte. Ông móc ngay khẩu súng lục bên hông, chĩa về phía phát ra tiếng súng bóp cò, quên cả tầm đạn của súng 6,35 ly chỉ là vài mét.

Xộc lên phía có tiếng súng ở nóc nhà của xưởng xe hơi, người ta tìm thấy một anh chàng người Pháp mặt mày xanh lét, run rẩy, bên cạnh là một bà già Pháp đã ngất xỉu vì sợ hãi. Căm giận, một người rút lưỡi lê định đâm thì một bàn tay cản lại: “Chủ trương của ta là hòa bình”.

Những nhà lãnh đạo trẻ tuổi đứng ra vãn hồi trật tự, giải thích về sự nhất thiết phải “giữ thái độ bình tĩnh và tuân thủ luật pháp quốc tế”. Đám đông được giải tán bớt, những người bị thương được đưa vào bệnh viện, một đội đặc nhiệm ngay lập tức được thành lập để đi tìm, tước vũ khí của người Pháp.

Ông Huỳnh Văn Tiểng, một trong năm người của Ủy ban Hành chính lâm thời Nam bộ lúc bấy giờ, kể lại như sự việc mới diễn ra ngày hôm qua: “Chúng tôi khám xét từng nhà, tịch thu vũ khí, tạm giam những người Pháp có giấu vũ khí. Để giữ gìn tuyệt đối uy tín cho Việt Minh, chúng tôi lại lập ra một đội kiểm tra khác, kiểm tra ngay chính những người vừa tiến hành khám xét nhà người Pháp, đảm bảo không xảy ra mất mát một li, một tí tiền bạc, của cải”.

Xế chiều, Huỳnh Văn Tiểng và Dương Bạch Mai đến hỏi cung, giảng giải chủ trương của cách mạng. Đến hôm nay, giọng ông Tiểng vẫn còn mạnh mẽ: “Hành vi bắn lén, phá hoại lễ độc lập là hèn nhát, nhắm vào thiếu nhi là nhục nhã, là phản bội lại cách mạng Pháp, nhân dân Pháp. Đáng lẽ chúng tôi phải xử hết, nhưng vì chính sách nhân đạo, vì hòa bình, chúng tôi chỉ điểm danh, lưu tên của các vị lại đây, nếu tái phạm sẽ phải đền tội. Hôm nay, cách mạng, chính quyền đã ở trong tay của nhân dân VN”.

PHẠM VŨ

 

(theo báo Tuổi Trẻ)

Lễ quốc khánh tại Hà Nội

Details
Quốc khánh 2/9/1945
07 September 2006
Hits: 7501

Từ sớm tinh mơ, dân chúng Hà Nội như các bầy ong, từng đoàn lúc lớn lúc nhỏ, lũ lượt dần dần kéo đến cạnh quảng trường Ba Đình.

Ở nhiều chỗ là cả một khối dân chúng các làng ngoại ô. Đi theo trong biển người đó, có cả đoàn nhân dân miền núi với y phục địa phương của họ, và nông dân trong những bộ khăn áo cổ truyền.

Giữa các khối khác nhau, người ta dễ dàng nhận ra các tổ chức của công nhân, sơmi trắng, quần dài hoặc quần soóc trắng hoặc xanh. Phụ nữ mặc áo dài trắng hay màu sáng, tay khoác nón.

Cho đến tận trưa, cả toán OSS (Cục Công tác chiến lược của quân đội Mỹ) chúng tôi lăn lộn ở ngoài phố, chụp ảnh, ghi chép về các nhóm người, các sự kiện, các khẩu hiệu, biểu ngữ, apphich... Có nhiều khẩu hiệu bằng tiếng Pháp, Anh, một số bằng tiếng VN: “VN của người VN”, “Hoan nghênh đồng minh”, “Hoan nghênh phái đoàn Mỹ”, “Thà chết, không nô lệ”...

Khoảng trưa, chúng tôi đi về phía quảng trường Ba Đình. Tôi đã quyết định từ chối lời mời của ông Hồ (Chủ tịch Hồ Chí Minh) đến khu vực lễ đài dành cho quan khách, để đi xem buổi lễ chỉ như một người quan sát trong quần chúng. Chúng tôi chọn được một điểm thuận lợi ngay trước lễ đài, giữa đám viên chức địa phương.

Trong khi chờ đợi ông Hồ và các quan chức tùy tùng tới, tôi nhìn thấy một nhóm cố đạo Thiên Chúa giáo mặc áo thầy tu trắng và xanh đen, có cả các chức sắc mang khăn quàng và dải viền đỏ. Cách họ không xa là các nhà sư Phật giáo khoác áo cà sa màu vàng, rồi đến các chức sắc Cao Đài, áo dài trắng có tua và khăn quàng sặc sỡ.

Mặt trời đã lên cao. Không khí oi bức. Nhưng đôi lúc cũng có cơn gió nhẹ thổi làm phấp phới cả biển cờ trên quảng trường. Trên cột cao trước lễ đài, lá cờ đỏ với ngôi sao vàng lớn phấp phới bay.

Bất chợt có tiếng còi và các hiệu lệnh quân sự phát ra từ các đội hình. Đội danh dự và các đơn vị bộ đội đứng thẳng và chăm chú theo dõi, có người đã bắt đầu xuất hiện trên lễ đài.

Mấy phút sau, nổi lên tiếng hô “Bồng súng chào”, quần chúng bỗng im lặng trong khi các vị chức quyền tìm chỗ đứng vào đằng sau cái bao lơn được trang trí bằng màu trắng và đỏ. Trên lễ đài, mọi người đều mặc đồ trắng, thắt cà vạt và để đầu trần, trừ một người nhỏ nhắn mặc áo kaki màu sẫm và có cái gì như là cái khăn trùm đầu - đó là Hồ Chí Minh.

 

Đội danh dự và công tác bảo vệ được giao cho bộ đội của Võ Nguyên Giáp, lực lượng được huấn luyện, trang bị, có kỷ luật nhất của họ. Mũ bấc, đồng phục kaki, quần soóc, tất cao, họ trưng bày các vũ khí mới một cách hãnh diện, lúc trong tư thế đứng nghiêm, lúc nghỉ.

Ở đó còn có các đơn vị tự vệ - dân quân mặc áo lẫn lộn quần áo nhà binh Pháp, Nhật hoặc quần áo ngắn xanh hay đen, mang theo một loạt các vũ khí cũng lộn xộn từ súng kíp, gươm, dao rựa, mã tấu có cán gỗ dài và cả gậy tày... Có thứ hình như họ mới lấy ở các đình, chùa ở làng ra.

Tất cả dựng lên một cảnh tượng sinh động với khoảng 500.000-600.000 người (theo không ảnh của Mỹ chụp ngày hôm đó).

Lê Xuân, nguyên là người liên lạc của chúng tôi, đã đi một vòng và cho rằng quần chúng hết sức tò mò và quan tâm đến vị lãnh đạo “mới” của Chính phủ. Mọi người đều muốn biết “ông Hồ Chí Minh bí ẩn” này là ai. Ông ở đâu về?

Một tiếng trong loa phóng thanh nổi lên phá vỡ sự im lặng, giới thiệu “Cụ Hồ là người giải phóng, vị cứu tinh của dân tộc”. Quần chúng được hướng dẫn của các đảng viên, lên tiếng hát và trong mấy phút liền hô vang “Độc lập”. Ông Hồ ngồi yên mỉm cười, nhỏ nhắn về dáng vóc, nhưng vĩ đại trong sự hoan hô của nhân dân ông. Ông giơ tay ra hiệu im lặng và bắt đầu đọc bản tuyên ngôn, nay thành nổi tiếng của ông với những lời: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

 

Ông Hồ dừng lại đột ngột và hỏi người nghe: “Đồng bào có nghe rõ không?”, quần chúng hô vang đáp lại: “Rõ”! Thật là một nghệ thuật diễn thuyết bậc thầy. Từ lúc đó, quần chúng lắng nắm lấy từng lời. Chúng tôi không hiểu ông Hồ đã nói gì.

Lê Xuân phải cố gắng lắm để dịch nhưng cũng rất khó khăn. Nhưng cứ nghe giọng nói của ông Hồ, bình tĩnh và rõ ràng, ấm áp và thân mật, và nghe thấy được quần chúng trả lời thì chúng tôi còn nghi ngờ gì nữa là ông đã thấu tới quần chúng.

Ông Hồ tiếp tục: “Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Quay về bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791, nói về quyền con người và quyền công dân, ông Hồ nói bản tuyên ngôn đã công bố: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi... Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Đến khoảng hai giờ, ông Hồ kết thúc bản tuyên ngôn, tiếp sau đó là Võ Nguyên Giáp nói về vai trò của Việt Minh, nhấn mạnh công tác của đảng trong lĩnh vực chính trị - quân sự, phát triển kinh tế - xã hội, chương trình giáo dục và văn hoa. Sau bài diễn văn, các bộ trưởng mới được chỉ định, từng người một được giới thiệu ra mắt nhân dân. Buổi lễ kết thúc bằng việc các bộ trưởng tuyên bố nguyện trung thành và triệt để ủng hộ Chính phủ lâm thời nước VN dân chủ cộng hòa.

ARCHIMEDES L. A. PATTI

"Là một sĩ quan tình báo của Mỹ, Archimedes Patti đã có mặt và can dự vào những biến động lịch sử ở VN vào thời điểm quyết định của cuộc Chiến tranh thế giới lần hai, cũng là bước ngoặt quyết định của cách mạng giải phóng dân tộc VN.

Những ấn tượng tốt đẹp của ông đối với những người cách mạng VN mà ông đã cộng tác, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã giúp đỡ viên sĩ quan tình báo Mỹ nhận ra được cái điều mà sau này ông đã giữ trọng trong cuộc đời mình, đó là tình hữu nghị cần có giữa hai dân tộc...”.

(Nhà sử học Dương Trung Quốc viết trong lời giới thiệu cuốn sách Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) của Archimedes L.A.Patti).

(theo báo Tuổi Trẻ)

Người kéo cờ trong ngày lễ Quốc khánh 2/9/1945

Có hai nhân vật được vinh dự kéo cờ trong ngày lịch sử đó và lại là hai cô gái. Một trong hai người đó là Bà Dương Thị Thoa, bí danh: Lê Thi. Khi đó bà 19 tuổi.

Hiện nay, bà là GS.TS Triết học, nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Phụ nữ và Gia đình, Viện KHXH Việt Nam và cũng nguyên là Cán bộ đoàn phụ nữ cứu quốc có mặt trong Ngày độc lập lịch sử đó.

Trả lời phỏng vấn của phóng viên website ĐCSVN, bà Lê Thi cho biết:

"Hôm đó, tôi đứng trong đoàn phụ nữ cứu quốc mặc áo dài trắng. Bên cạnh chúng tôi là đoàn nữ dân quân ngoại thành mặc quần đen áo nâu rồi đến đoàn công nhân mặc áo xanh... Đang đứng đó thì tôi thấy các anh bảo là đoàn tôi cử một người lên kéo cờ. Các chị trong đoàn bảo tôi: Đồng chí lên đi! Lúc đó, tôi rất run và sợ vì không được chuẩn bị tinh thần trước và tôi lại chưa kéo cờ bao giờ.

Khi lên đến nơi thì có một chị nữa cùng kéo cờ với tôi. Hôm đó, hai chị em còn chưa kịp hỏi tên nhau. Về sau tôi mới biết, đó là vợ của Trung tướng Hoàng Văn Thái. Cả hai chị em đều rất lo, nhìn xuống dưới không biết bao nhiêu người. Tôi tự nhủ: hôm nay kéo cờ mà tắc thì sẽ là điều không may cho ngày độc lập. Vì vậy, mãi đến khi nhìn thấy lá cờ vút bay cao trong gió, nghe thấy tiếng vỗ tay hoan hô ở phía dưới, chúng tôi mới thở phào nhẹ nhõm và biết là mình đã hoàn thành nhiệm vụ. "

Theo Lan Duyên (website ĐCSVN)

Tuyên ngôn độc lập

Details
Quốc khánh 2/9/1945
07 September 2006
Hits: 10184

Sau khi lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách Mạng Tháng Tám (1945), giành độc lập cho Việt Nam từ tay phát xít Nhật, sáng ngày 02 tháng 09 năm 1945, trước hàng vạn đồng bào thủ đô Hà Nội, Chủ Tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ lâm thời đọc bản "Tuyên Ngôn Độc Lập" khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhà nước độc lập đầu tiên của giai cấp lao động, ra mắt chính phủ mới. Sau đây là tòan văn bản "Tuyên Ngôn Độc Lập".

“Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập nǎm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Read more …
  1. You are here:  
  2. Home
  3. CHUYÊN ĐỀ
  4. Sự kiện
  5. Quốc khánh 2/9/1945
Copyright © 2026 Lịch Sử Việt Nam - Vietnam history. All Rights Reserved. Designed by JoomlArt.com. Joomla! is Free Software released under the GNU General Public License.