Sidebar

  • TRANG CHÍNH
  • LƯỢC SỬ TÓM TẮT
  • CHUYÊN ĐỀ
  • CỔ SỬ
  • THƯ VIỆN
  • ẢNH LỊCH SỬ
Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history
  • TRANG CHÍNH
  • LƯỢC SỬ TÓM TẮT
  • CHUYÊN ĐỀ
    • Nhân vật
    • Sự kiện
    • Hiện vật
    • Di tích
    • Hồi ký
  • CỔ SỬ
    • Đại Việt sử ký toàn thư
    • Huyền sử, dã sử
  • THƯ VIỆN
  • ẢNH LỊCH SỬ
    • Việt Nam triều Nguyễn

Hiện vật chiến tranh

Hiện vật chiến tranh

Lá thư để lại giữa rừng *

Details
Hiện vật chiến tranh
12 February 2009
Hits: 12966

Một bức thư được gói kỹ càng để lại giữa cánh rừng nguyên sinh tại thượng nguồn sông Đồng Nai bên cạnh 3 bộ hài cốt của 3 chiến sĩ thuộc Tiểu đội 1 (Trung đội Ký Con, Trung đoàn Bình Giã, Quân giải phóng miền Nam).

...Chúng tôi mong được ghi nhận rằng chúng tôi đã từng sống, chiến đấu và đã chết trong một mùa Xuân giữa đất trời như trăm ngàn cái chết của người Việt Nam chân chính cho Tổ quốc và dân tộc sống còn... Xin cho chúng tôi gởi đến những người đang sống, sống đúng ý nghĩa của nó lời biết ơn sâu sắc vì các bạn đang làm cho cái chết của chúng tôi giữ được đầy đủ ý nghĩa.

Các bạn đang lao động quên mình cũng như chúng tôi đã chiến đấu quên mình cho đất nước ta ngày nay tươi đẹp, cho dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc, cho xã hội ta ngày càng dân chủ công bằng"...

 Sự hy sinh rất đỗi bi hùng của những chiến sĩ Giải phóng quân và những dòng thư họ để lại như một lời ca bất tử của tuổi trẻ Việt Nam thời thắng Mỹ, là cảm nhận của người đọc khi bắt gặp bức thư này trong tập sách Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm của Cố Thượng tướng Trần Văn Trà, do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành nhân kỷ niệm 30 năm ngày toàn thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ và lần thứ 60 Quốc khánh 2/9.

Lộ trình đến với bức thư “có một không hai” này được Cố Thượng tướng Trần Văn Trà kể lại:

Vào mùa xuân năm 1984, trong một chuyến khảo sát để quy hoạch cơ sở sản xuất, đoàn cán bộ Nông trường “Giải phóng” – tỉnh Sông Bé (nay thuộc Bình Dương) do đồng chí Nhân – Thượng tá quân đội chuyển ngành, nguyên cán bộ Trung đoàn Bình Giã - dẫn đầu, ngược thượng nguồn sông Đồng Nai tới một vùng đồi rừng nguyên sinh đã xúc động, bàng hoàng trước một cảnh tượng rất đỗi thiêng liêng.

Trên 3 chiếc võng dù cùng cột chung đầu vào một thân cây, là 3 bộ hài cốt của 3 chiến sĩ Quân giải phóng. Cạnh mỗi bộ hài cốt là một khẩu AK han rỉ, một đôi dép cao su. Những bí ẩn về sự hy sinh của 3 chiến sĩ giải phóng quân nhanh chóng được “giải mã” bởi bức thư bọc gói kỹ càng trong ni lông và được cột chặt ở đầu võng. Tuy những dòng viết run rẩy, nguệch ngoạc (vì bị thương, đói, khát), nhưng với những ý tứ, câu từ rất sáng rõ.

Những người viết tự giới thiệu: “Chúng tôi: 1. Lê Hoàng Vũ, quê Thái Bình; 2. Nguyễn Chí, quê Quảng Ngãi; 3. Trần Viết Dũng, quê thành phố Sài Gòn, chiến sĩ thuộc Tiểu đội 1, Trung đội “Ký Con”, Trung đoàn BG (Bình Giã), Quân giải phóng miền Nam…”

Những dòng thư đưa người đọc trở lại với một sự kiện lịch sử xảy ra cách hôm nay (2005) hơn 40 năm.

Ngày đó, sau trận tập kích của Trung đoàn Bình Giã và một số đơn vị khác thuộc Bộ Tư lệnh Miền, diệt một lực lượng lớn quân Mỹ – Ngụy ở Bông Trang – Nhà Đỏ (Thủ Dầu Một), tháng 2/1966, trên đường rút về hậu cứ, một tiểu đội, trong đó có các anh Vũ, Chí, Dũng, được phân công nghi binh, đánh lạc hướng địch, để trung đoàn trở về an toàn.

Một tiểu đội 11 người với những chiếc bật lửa và vài chiếc máy thông tin, mỗi người một khẩu AK đã làm tròn nhiệm vụ tạo dấu vết một trung đoàn hành quân về hậu cứ sau trận tập kích thắng lợi. Sau mấy ngày băng rừng, vượt suối, hứng chịu hàng chục phi vụ rải thảm của B52, 8 người hy sinh; phương tiện thông tin hư hỏng.

Vượt qua những ngày “đói quay đói quắt…, khát như khô cháy cả ruột gan…” và mang trên mình đầy thương tích, 3 chiến sĩ còn lại đã tới được cánh rừng này. Sức kiệt, không thể đi tiếp, không còn phương tiện thông tin, các anh quyết định dừng lại và “chọn khu rừng đẹp đẽ này làm nơi an nghỉ cuối cùng…”.

Chúng ta hãy nghe các anh tâm sự:

“Quyết định rồi chúng tôi tự thấy khoan khoái lạ thường. Sáng suốt hẳn lên… Dừng lại ở đây với một ít sức lực còn lại viết một tường trình cuộc chiến đấu gửi lại cho ai đó tìm được…Mỗi người đứng trước cái chết của mình cố gắng dùng một chút sức còn lại, quả thật rất ít ỏi, để thay nhau chấp bút. Chúng tôi đã chọn cây gỗ tơ còn sống lâu này làm trụ, giúp nhau mắc võng cho từng người, thống nhất nhau tư thế nằm trên võng, sắp xếp vài đồ vật còn lại… Chúng tôi sẽ chết ung dung thư thái như đã từng sống mãnh liệt mà thư thái với công việc chúng tôi đã làm…”.

Sau khi chọn cho mình cái chết, 3 chiến sỹ – người yếu viết trước, người còn sức dành viết sau; các anh dồn chút sức lực còn lại viết về cuộc chiến đấu trong mấy ngày qua, về sự hy sinh của đồng đội; những tình cảm thân thương da diết đối với bố, mẹ, vợ con, người thân, quê hương… và bày tỏ niềm tin vào ngày cuộc kháng chiến chống Mỹ toàn thắng.

Lần lượt, Lê Hoàng Vũ, Nguyễn Chí vĩnh viễn ra đi. Người để lại những dòng lưu bút cuối cùng là Trần Viết Dũng. Xin được dẫn những dòng như dứt, rút từ gan ruột của anh:

“…Nhưng rồi các bạn giục kết thúc lá thư đi thôi. Thời gian không chờ chúng tôi nữa. Chúng tôi đã cảm thấy sắp đến giờ phải từ giã cõi đời này rồi. Trước khi ra đi, thư phải được bảo quản cẩn thận để tránh thời gian mưa nắng phũ phàng. Thư. Thư phải về tới tay những người đang sống…

Nếu lá thư này được về với đồng đội chúng tôi trong Trung đoàn BG quân giải phóng miền Nam hay một đơn vị bạn nào đó qua đây, xin chuyển lên giùm cấp trên.Tiểu đội Giải phóng quân chúng tôi trong Trung đội “Ký Con” đã hoàn thành nhiệm vụ. Chúng tôi mong được ghi nhận rằng chúng tôi đã từng sống, chiến đấu và đã chết trong một mùa Xuân giữa đất trời như trăm ngàn cái chết của người Việt Nam chân chính cho Tổ quốc và dân tộc sống còn.

Còn như chúng tôi được phát hiện muộn hơn sau 5 năm – 10 năm – tự do quý giá, thì xin cho chúng tôi – gởi đến những người đang sống, sống đúng ý nghĩa của nó, trong một thời đại vinh quang, lời biết ơn sâu sắc vì các bạn đang làm cho cái chết của chúng tôi giữ được đầy đủ ý nghĩa. Các bạn đang lao động quên mình cũng như chúng tôi đã chiến đấu quên mình cho đất nước ta ngày nay tươi đẹp, cho dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc, cho xã hội ta ngày càng dân chủ công bằng.

Hay trong trường hợp đến 50-100 năm sau, thư này mới tới những người, có thể gọi là thế hệ mai sau, thì cho phép chúng tôi gửi lời chào xã hội chủ nghĩa, cho phép chúng tôi bày tỏ vui mừng tuyệt diệu vì hạnh phúc và hòa bình đang tràn ngập hành tinh chúng ta mà chúng tôi trở thành những hạt bụi có ích – Và hơn thế nữa nếu được, cho chúng tôi gửi lời chào niềm nở nhất đến những con người ở những vì sao xa xôi, những người bạn mới giữa các hành tinh.

Mùa Xuân giữa rừng miền Đông Nam Bộ.

Vũ-Chí-Dũng”.

Xin được nghiêng mình trước những gương hy sinh nghĩa liệt, trước những dòng huyết thư như một lời ca bất tử của những người trai đất Việt thời thắng Mỹ.

Nguyễn Duy Tường báo Tiền phong (theo lietsivietnam.org)

* Tựa do LSVN đặt

Xuất xứ của cặp ngà voi trong dinh Độc Lập

Details
Hiện vật chiến tranh
06 August 2007
Hits: 17299

Theo lời kể của một cựu sĩ quan quân đội Sài Gòn: Trung úy Bùi Quang Vinh, Trưởng Ban Tham mưu hành quân của Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 54, Sư đoàn 1 bộ binh, đóng tại Thừa Thiên - Huế năm 1970, để đoạt hai chiếc ngà voi, có ít nhất 20 người dân vô tội đã bị sát hại trong rừng sâu Hạ Lào. Cặp ngà voi sau đó được đem về Huế, gửi vào Dinh Độc Lập...

ImageSang đầu năm 1971, tiểu đoàn đột ngột nhận lệnh tập kết tại Khe Sanh, qua vùng Lao Bảo và tiến sang đất Lào. Mấy ngày đầu, trung đội trinh sát do trung úy Minh chỉ huy tiến lên trước, gặp một nhóm dân tộc thiểu số đi ngược chiều, chừng hơn 20 người gồm toàn phụ nữ, cụ già và trẻ em, theo sau họ có con voi to lớn (trên lưng chở một cái bành, mà sau này khi hạ voi, đã tìm thấy pho tượng nữ thần bằng đồng để trong bành ấy). Voi có cặp ngà cong vút, láng lẫy, dài non sải tay. Trung úy trinh sát (Minh) điện về ban chỉ huy tiểu đoàn gặp trung úy tham mưu (Vinh) xin nói chuyện trực tiếp với "đại bàng" (mật danh của thiếu tá Thọ, tiểu đoàn trưởng, là bà con bên vợ Tổng thống Thiệu). "Đại bàng" hỏi: "Lấy ngà dễ chứ?". Minh đáp: "Khó. Người Thượng không chịu bán voi hoặc đổi chác gì cả. Họ tỏ ra sùng kính, bảo vệ con voi lắm". "Đại bàng" thúc: Vậy thì... bắn bỏ hết!". Tuân lệnh, Minh cho trung đội xả súng vào đoàn người vô tội, bắn chết không chừa một ai.

Giết người, giết voi, chặt ngà xong, trung đội trinh sát của Minh tiếp tục di chuyển và hai ngày sau bất ngờ lọt vào vòng vây giăng sẵn của bộ đội chính quy cách mạng, bị cắt đứt đội hình với tiểu đoàn và bị chênh vênh, cô lập trên đồi cao...

Lúc này Minh đang giữ cặp ngà voi còn dính máu, đã lập cập điện về bộ chỉ huy xin liên lạc hậu cứ tiếp ứng máy bay giải vây. Nhưng "đại bàng" sợ cặp ngà quý bị bom thả nát, nên chỉ lặng lẽ tung bộ binh mở đường máu lên đỉnh đồi một cách khó khăn, chậm chạp. Và, phải đổi nhiều sinh mạng sau trận đánh kéo dài từ 10 giờ sáng hôm nay đến 10 giờ sáng hôm sau mới lọt vào tử địa, lục tìm cặp ngà mang về. Những ngày sau tiểu đoàn của Thọ tiếp tục bị truy đánh, tan tác, chạy về tới Huế, còn không quá 2 đại đội (trong số 5 đại đội biên chế lúc xuất quân). Ông Vinh kể: "Nhiều người bỏ xác tại chỗ trong đó có trung úy Minh, ngược lại cặp ngà voi thì theo lệnh của ông Thọ phải đưa ra khỏi mặt trận bất cứ giá nào để đem về nhà riêng ông ta trong thành nội Huế".

Đến 1972, thiếu tá Thọ một lần nữa bị vây khốn trên một cứ điểm vùng núi Thừa Thiên, tính mạng nguy ngập. Quyết định thăng chức trung tá cho Thọ được đựng trong chai, rồi dùng máy bay thả xuống căn cứ, xem như Thọ sắp là "người cõi trên" (trên bàn thờ).

Song, nhờ bấy giờ, ông Thiệu hay tin cháu vợ lâm nguy, sốt ruột, điện trực tiếp cho Tư Lệnh quân khu 1, vùng 1 chiến thuật phải bằng mọi cách cứu Thọ. Họ dùng lực lượng đặc biệt xuyên rừng đưa Thọ và một số sĩ quan thân cận may mắn chạy thoát thân khỏi trận địa pháo, số binh sĩ Sài Gòn còn lại bị B52 ném bom rải thảm, chôn vùi.

Thoát chết, Thọ thất thần, muốn rời khỏi vùng hỏa tuyến. Và muốn xa cặp ngà voi mà Thọ cho là từ ngày có chúng trong nhà đã xảy ra nhiều xui xẻo. Năm sau, 1973, Thọ bấy giờ lên trung tá, được Dinh Độc Lập chiếu cố dàn xếp để rời vùng 1 chiến thuật, về làm tiểu khu phó Định Tường, thuộc địa bàn của quê vợ ông Thiệu. Ngày ra đi, Thọ đóng cặp ngà voi vào thùng, chuẩn bị tặng Tổng thống Thiệu, để vừa đền ơn (cứu mạng), vừa muốn xa "món quà" dính dấp tới quá nhiều cái chết. Áp tải thùng ngà voi lên chiếc máy bay C130 (cùng một số vật sản của gia đình trung tá Thọ) tại phi trường Phú Bài là trung úy Vinh, người kể chuyện này. Đáp xuống Tân Sơn Nhất, ông Vinh đưa ngà voi vào Dinh Độc Lập theo cổng đường Nguyễn Du. Năm ấy ông 22 tuổi, thuộc hàng sĩ quan trẻ nhất, xuất thân từ trường thiếu sinh quân của Sài Gòn. Sau năm 1975, ông đi học tập cải tạo hơn 6 năm. Nay ông đã 52 tuổi, đến tòa soạn và nhắc chuyện cũ: Đọc bài báo viết về di tích Dinh Độc Lập tôi không ngủ được, suốt đêm trằn trọc nghĩ tới những người bị giết oan, tới một số bạn bè mất xác vì cặp ngà voi. Sau 32 năm dường như chả ai để ý về gốc gác dính máu của chúng chăng? Song dù thế nào đi nữa, ông Vinh nói, nó vẫn thuộc "loại tài vật đặc biệt do chính tay tôi đưa vào dinh với một lai lịch đầy những oan hồn".

Theo báo Người Lao Động

  1. You are here:  
  2. Home
  3. CHUYÊN ĐỀ
  4. Hiện vật
  5. Con dấu các tiểu khu Hà Nội xưa
Copyright © 2026 Lịch Sử Việt Nam - Vietnam history. All Rights Reserved. Designed by JoomlArt.com. Joomla! is Free Software released under the GNU General Public License.