Tối thứ hai đồng chí Vũ Lăng kể tiếp:

“Bữa trước tôi đã nói với anh về những công việc chuẩn bị của chiến trường theo ý đồ của Bộ cuối năm 1974. Khoảng ngaỳ 10 tháng Giêng năm 1975, tôi về tới Chỉ huy sở khu B làm kế hoạch thì nhận được điện của anh Lê Ngọc Hiền, Phó tổng tham mưu trưởng: “Nên đánh mục tiêu A. Nhưng như thế cũng đã đủ rõ rồi. Lúc này anh Hiệp đang làm việc với trung đoàn 25 ở phiá bắc Buôn Ma Thuột. Ngày 13, anh Hiệp nhận được điện trở về. Anh Hiệp, anh Hàm, anh Năng và tôi bàn ngay vào nhiệm vụ mới, coi như nhiệm vụ chính thức đã được Bộ giao. Cũng rất lo về thời gian, dốc sức chuẩn bị cho Đức Lập trên một tháng, nay lại thêm Buôn Ma Thuột, mà ngày nổ súng tấn công trên toàn mặt trận vẫn không thay đổi, khoảng 20 đến 25 tháng Hai. Khó khăn tuy nhiều nhưng cả mấy chúng tôi đều rất vui.

Lại nghĩ đến thời cơ lớn của cả cuộc kháng chiến và của riêng mỗi chiến trường. Thị xã Phước Long đã được giải phóng vừa cách một tuần. Làm gọn được Đức Lập sẽ đánh thốc xuống Gia Nghĩa, giải phóng tỉnh Quảng Đức. Phía trên này đánh nhanh Buôn Ma Thuột, giải phóng tỉnh Đắc Lắc, có cơ hội giải phóng luôn tỉnh Phú Bổn, ép chặt Plây Cu và Công Tum. Chỉ mường tượng trên bản đồ đã thấy một vùng đỏ rộng lớn kéo dài từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, tạo ra một thế chiến lược cực kỳ lợi hại, không có cách gì đảo ngược được.

“Đánh Buôn Ma Thuột còn có một thuận lợi là địch chưa có sự chuẩn bị. Chúng luôn bị ám ảnh bởi áp lực thường xuyên của ta xung quanh Công Tum và Plây Cu. Nếu có đụng chạm đến cái thị xã phía nam này chắc chỉ là những hoạt động phối hợp, nhằm làm phân tán lực lượng của đối phương. Càng ngày càng tỏ rõ cái ý nghĩ ấy đã đóng chặt vào đầu các cơ quan tham mưu của quân đội ngụy, dẫu khi đã có trong tay nhiều tài liệu chứng tỏ có thể ta sẽ đánh Buôn Ma Thuột chúng vẫn không tin, vẫn nghĩ là một đòn nghi binh, một mưu kế.

“Chúng tôi đã thống nhất với nhau về hai phương án để chuẩn bị. Một là đánh địch đã có phòng ngự dự phòng, hai là đánh địch như trong tình hình hiện tại, nghĩa là chỉ có một trung đoàn đồn trú trong thị xã. Tốt nhất là đánh địch khi chúng chưa có chuẩn bị, hoàn toàn bị bất ngờ, lực lượng chủ yếu của chúng vẫn nằm ở CôngTum và Plây Cu. Nên đánh theo phương án 2, nhưng khi chuẩn bị lại phải dốc sức vào phương án 1, tức là địch đã có chuẩn bị, đã tăng thêm lực lượng, đã có một kế hoạch đối phó hẳn hoi. Trong quân sự, cách chuẩn bị theo tình huống khó nhất vẫn là cách chuẩn bị chủ động nhất. Dầu mục tiêu, ngày giờ và lực lượng có bị tiết lộ, chúng ta vẫn cứ hoàn thành nhiệm vụ. Vì chúng ta đã có một sức mạnh nhất định, có khả năng áp đảo địch trên một hướng nhất định. Tuy nhiên, trong cách suy nghĩ người chỉ huy phải chọn cơ hội có lợi nhất, trận đánh sẽ diễn ra nhanh gọn nhất và lực lượng tấn công chỉ chịu một tổn thất rất ít.

“Lại bàn về cách đánh Buôn Ma Thuột. Cũng có hai cách đánh. Một là đánh đột phá lần lượt, từ ngoài vào trong. Và một cách đánh đưa một lực lượng rất mạnh chọc thẳng vào khu trung tâm chỉ huy của địch rồi từ đó tỏa ra cùng với các lực lượng phía ngoài tiếp ứng vào. Nếu giờ nổ súng được giữ bí mật tới phút cuối cùng thì có thể đánh theo cách chọc thẳng. Mà nếu bị ngăn trở từ nhiều ngày trước thì đành phải mất công bóc lần lượt lớp vỏ bên ngoài ra. Tất nhiên, cách đánh thứ hai là cách đánh hay nhất, gọn nhất, ít tốn kém nhất. Nhưng muốn đánh theo phương án 2 và với cách đánh chọc thẳng thì phải giữ được bí mật về mục tiêu. Giữ bí mật đến phút cuối cùng tất nhiên là rất khó, khó lắm. Nhưng chúng ta sẽ cố giữ bí mật đến một lúc nào đó, còn khi thế chiến dịch đã cài rồi, chúng ta đã bày binh bố trận đâu vào đấy rồi thì dẫu có bị lộ địch cũng không thể trở tay được nữa. Không thể trở tay được chứ không phải là không trở tay kịp. Vì lực lượng của chúng có hạn, phương tiện vận chuyển cũng có hạn. Nếu chúng ta trinh sát kỹ, bố trí lực lượng giỏi, các trận đánh dạo đầu diễn ra nhanh thì dầu có được biết trước hướng tấn công chủ yếu của ta thì địch cũng đành bó tay chịu chết. Tình hình muời ngày đầu trong tháng Ba đã diễn ra gần đúng như thế.

“Ngày 21 tháng Giêng, anh Lê Ngọc Hiền từ ngoài Bộ và chính thức giao nhiệm vụ. Khi nhận nhiệm vụ của cấp trên thì trong tay chúng tôi đã có hai phương án tác chiến để báo cáo rồi. Nhìn vào cách bố trí lực lượng của chúng tôi, các anh trên có hơi nghi ngại vì nó phân tán quá. Sư đoàn 320 nằm trên quốc lộ 14, bắc Buôn Ma Thuột, xung quanh khu vực Cẩm Ga-Thuần Mẫn. Sư đoàn 10 bám chặt khu vực Đức Lập, Sư đoàn 316 rải quân giữa Buôn Ma Thuột và Đức Lập, phía tây sông Sê-rê-pốc. Sư đoàn 968 kiềm chế địch ở Công Tum và Plây Cu. Trung đoàn 95 A chặn đường 19 tử đèo Măng Đang lên Con Từng. Trung đoàn 25 thì chặn đường 21, từ Buôn Ma Thuột đi Khánh Hòa, đoạn đông-tây Chư Cúc. Thế trận như thế là chắc, nhưng Bộ tư lệnh mặt trận không có lực lượng dự bị trong tay. Thông thường mà xét, bố trí như vậy là không có bài bản. Trong tình hình này nếu không đánh Đức Lập thì sẽ được một sư đoàn rút ra làm lực lượng dự bị cho chiến dịch. Nhưng không đánh Đức Lập thì không thể giải tỏa được đoạn đường 14 từ Buôn Ma Thuột đi Đức Lập, không thể đưa bộ đội và binh khí kỹ thuật qua đường và con sông Sê-rê-pốc sang ém phía tây và tây nam Buôn Ma Thuột. Vả lại, đánh Đức Lập còn nhằm thực hiện những ý định cũng hết sức quan trọng: mở rộng đường hành lang chiến lược bắc nam, uy hiếp trực tiếp thị xã Gia Nghĩa, kéo một phần lực lượng địch ở Buôn Ma Thuột ra ứng cứu (nếu chúng đã tăng cường lực lượng), giành thế đánh địch ở thị xã theo phương án 2. Đánh cụm cứ điểm này là rất nên, nhưng đã đánh thì thì không thể có lực lượng dự bị. Nhưng thời gian là lực lượng, cơ động là sức mạnh. Có nghĩa là đánh Đức Lập trong vònh hai ngày, sau đó các lực lượng tham chiến sẽ lần luợt được điều bằng cơ giới lên phía bắc Buôn Ma Thuột làm lực lượng dự bị cho chiến dịch. Tức là lực lượng dự bị sẽ được hình thành trong quá trình chiến đấu. Đó cũng là một nguyên tắc, nhưng chỉ được thực hành khi bộ đội ta đã mạnh, năng lực tổ chức và chỉ huy của cán bộ đã giỏi, có khả năng hoàn toành áp đảo địch trên một hướng rồi sau đó laại vận động bằng cơ giới lên một hướng khác mà sức lực và khí thế vẫn dư thừa. Rồi lại phải tính toán thật sít sao về thời gian nổ súng, thời gian hoàn thành nhiệm vụ, và vào lúc nào thì địch sẽ tung ra những lực lượng phía sau tổ chức phản kích. Ngày nổ súng, tức ngày N, càng được giữ bí mật thì sự phản ứng của địch sau đó càng chậm chạp. Vì rằng chúng còn phải tổ chức lại lực lượng, phải tìm hiểu tình hình của ta và các khu vực có thể đổ quân xuống và cũng còn phụ thuộc cả vào phương tiện vận chuyển nữa. Tuy nhiên, những lực lượng tiếp cứu lấy cũng không dễ mà đi và đến cũng không dễ nếu ta hoạt động mạnh ở Công Tum và Plây Cu, nếu ta khóa chặt được các con đường sinh tử 19, 21 và 14, chia cắt chúng ra từng khu vực, nếu ta nhổ gọn các căn cứ phụ cận Buôn Ma Thuột khiến quân địch có đổ xuống cũng đã mất chỗ đứng chân.

“Anh Hiền rất đồng ý với hai phương án chuẩn bị của chúng tôi và cũng khuyên phải tranh thủ điều kiện đánh địch trong hiện trạng, tức là chỉ có lực lượng của một trung đoàn 53 thiếu, cộng thêm lực lượng địa phương quân của tiểu khu Đắc Lắc. Muốn giữ địch như trong hiện tại tất phải có một kế hoạch nghi binh thật tốt và một kế hoạch khóa chặn những con đường vận chuyển thật chắc chắn. Theo anh Hiền, sư đoàn 3 Sao Vàng của quân khu 5 sẽ phụ trách đoạn đèo An Khê đến quận lỵ Bình Khê, trung đoàn 95A của Tây Nguyên sẽ đánh đoạn đèo Mang Dang, cách Plây Cu khoảng 60km. Một sư đoàn và một trung đoàn mạnh đánh giao thông thì địch phải có từ ba đến năm sư đoàn mới chọc thủng được. Nhưng chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra. Nếu chúng không dám vận chuyển trên đường 19 mà lại đổ xuống sân bay Cù Hanh (Plây Cu) rồi từ đó theo đường 14 xuống Buôn Ma Thuột thì lại vấp phải sư đoàn 320, cũng là một sư. Hoặc giả chúng đưa quân xuống Nha Trang, rồi từ đó theo đường 21 lên Buôn Ma Thuột thì lại bị trung đoàn 25 chặn đánh ở đông tây Chư Cúc. Tuy nhiên, chúng lại không thể để mất Buôn Ma Thuột một cách quá dễ dàng, nhưng lực lượng của nó là thế, khả năng cơ động của nó là thế, nhiều lắm thì cũng chỉ có thể đổ xuống từ một đến hai trung đoàn bằng C130 hay trực thăng vận tải xuống mấy khu vực phía đông bắc Buôn Ma Thuột. Một trung đoàn đổ quân bằng máy bay phải mất từ một đến hai ngày. Một sư đoàn đổ quân xuống mất một tuần. Mà sau một tuần thì chúng ta đã có đến hai sư đoàn dự bị rồi.

“Về bố trí lực lượng của chúng ta lần này có cái hay là vấn ém được quân ở những khu vực quan trọng, nhưng hướng tấn công chủ yếu không vì thế mà bị địch nghi ngờ. Vì rằng cách bố trí đó có ý nghĩa là thế này mà cũng có ý nghĩa là thế kia, có thể nhằm vào mục tiêu B, mà cũng có thể nhằm vào mục tiêu A. Trong kế hoạch nghi binh có kế hoạch chuyển quân từ phía bắc xuống phía nam của sư đoàn 10. Vì trong nhiều năm trực tiếp tiếp xúc với nhau trên hai địa bàn Công Tum và Plây Cu nên đôi bên đều hiểu rất rõ về nhau, biết cả chỗ yếu và chỗ mạnh của nhau. Bước sang mùa khô là các lực lượng trinh sát thám báo cùng những đơn vị kỹ thuật của địch bắt đầu dò tìm phương hướng di chuyển của các đơn vị chủ chốt. Đánh lớn tất phải dồn quân, mà quân tinh nhuệ phải ở vị trí xung yếu. Làm cách nào điều quân đi mà kẻ địch vẫn không hay rõ quả thật là rất khó khăn. Còn quân thì còn hoạt động. Quân rút thì hoạt động phải lắng đi. Đưa đơn vị khác đến thay cũng không dễ vì cách thức chỉ huy và tác chiến của đơn vị này không giống với đơn vị nọ, mà kẻ địch do phải đương đầu với chúng ta đã nhiều năm nên có thể đoán biết mọi hoạt động của ta từ những dấu hiệu rất nhỏ.

“Trước tết, sư đoàn 10 vẫn còn ở khu vực Công Tum liền tổ chức ăn tết ở đó, mời cán bộ địa phương đến dự. Cùng thời gian, chúng tôi phái cán bộ đến liên lạc với tỉnh ủy và các cơ quan dân chính tại hai tỉnh Công Tum và Plây Cu yêu cầu huy động dân công làm đường và chuyển lương cho bộ đội đánh lớn vào mùa khô sắp tới. Mà là làm đường thật và chuyển lương thật, vì sư đoàn 968 tới thay thế cũng phải mở các trận đánh ở khu vực mình, vừa là nghi binh, vừa tạo một chỗ đứng vững chắc làm bàn đạp cho những bước nhảy sắp tới. Các đơn vị được di chuyển cũng chỉ được biết vào phút chót, trước hết là chuyển ra xa hơn các vị trí vừa đóng, như một cuộc chuyển quân bình thường để cắt đứt mọi sự mua bán, gửi gắm, chào hỏi với dân địa phương trước khi đi xa. Khi quân đã chuyển rồi, các cụm đài vẫn liên lạc với nhau và với Bộ tư lệnh cũ, do đồng chí tham mưu phó của B3 phụ trách mạng liên lạc này. Dĩ nhiên, mọi hoạt động chuẩn bị của ta ở hai tỉnh vẫn hết sức bí mật, nhưng tin rằng địch sẽ dò la ra, vì chúng đã chú ý từ trước, đã phấp phỏng từ trước. Nghi binh mà lộ liễu quá thì không còn là nghi binh. Nghi binh cũng phải nhằm đạt tới những mục tiêu có thật. Đứng về phía chiến dịch thì hướng đó là nghi binh, nhưng trong hàng loạt trận đánh của khu vực vẫn phải hoàn thành những nhiệm vụ đã được xác định: tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, chia cắt địch không cho chúng có cơ hội tập trung lực lượng, và nếu như nhân đó một thời cơ tốt đẹp đã xuất hiện thì phải nhanh chóng chớp lấy thực hiện những nhiệm vụ sẽ được bổ sung. Nghi binh tức là một hướng đánh, chỉ không phải là hướng chủ yếu của chiến dịch mà thôi. Phương hướng chuẩn bị là như thế. Cách thức chuẩn bị là như thế. Xây dựng kế hoạch sẽ dựa trên phương hướng và cách thức ấy do các cơ quan chính trị và tham mưu của mặt trận làm và bàn duyệt trong một thời gian ngắn nhất để còn kịp triển khai lực lượng.

“Trước tết Ất Mão chừng mấy ngày thì anh Hoàng Minh Thảo từ Bộ vào. Bộ tư lệnh chiến dịch nam Tây Nguyên đã được Quân uỷ trung ương chỉ định như sau: Anh Thảo là Tư lệnh trưởng, anh Hiệp là Chính ủy, anh Hàn là Phó chính ủy, anh Phan Hàn, anh Lăng, anh Năng và tôi là Phó tư lệnh.

“Ngày 23/02, tức 13 tháng Giêng năm Ất Mão, chúng tôi đi đón anh Văn Tiến Dũng. Anh Dũng ăn tết dọc đường để kịp vào xét duyệt các phương án trước khi chiến dịch mở màn. Đại tướng Văn Tiến Dũng là Ủy viên Bộ chính trị của Đảng ta, là Phó bí thư Quân ủy trung ương, được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ và thay mặt Quân ủy trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy chiến dịch quan trọng này. Ngày 25/02, chúng tôi kéo lên Chỉ huy sở tiền phương của Bộ báo cáo quyết tâm và trình bày các phương án tác chiến. Nhân dịp này, anh Dũng có truyền đại lại tinh thần hội nghị Bộ chính trị từ ngày 18 tháng Chạp năm 1974 đến ngày 8 tháng Giêng năm 1975 như sau:

“Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền trong thời gian 1975-1976 đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành khẩn trương và hoàn thành công tác chuẩn bị, tạo điều kiện chín muồi tiến hành Tổng công kích – Tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền từ trung ương đến địa phương giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền nam tiến tới thống nhất nước nhà…”

Ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản hai năm, trong kế hoạch năm 1975, Bộ chính trị dự kiến một phương án và một phương hướng hành động cực kỳ quan trọng là nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền nam trong năm 1975. Quyết tâm của Bộ chính trị trong mùa xuân 1975 là: phát động tấn công lớn trên toàn miền nam, lấy chiến trường Tây Nguyên là hướng tấn công chủ yếu. Trong Tây Nguyên, lấy nam Tây Nguyên là khu vực tác chiến chủ yếu và thị xã Buôn Ma Thuột là mục tiêu then chốt. Khi xét duyệt các phương án tác chiến, anh Dũng đã chỉ thị nhiều ý kiến hết sức quan trọng, đặc biệt là cách tổ chức các lực lượng thọc sâu. Với anh em chúng tôi trong Bộ tư lệnh chiến dịch, anh Dũng có căn dặn mấy điều. Một là, phải giữ được chủ động từ lúc nổ súng, cả quá trình, cho đến khi kết thúc. Hai là phải giữ được bất ngờ và luôn luôn tạo ra những bất ngờ mới cho địch. Ba là phải càng đánh càng mạnh, tạo ra một sức mạnh liên tiếp. Do đó, từ nay đến lúc nổ súng phải biết điều khiển địch, biết củng cố những nhận định sai lầm của nó về hướng tấn công chủ yếu của ta, phải tính toán và kiểm tra thật chặt chẽ mọi hoạt động của bộ đội để giờ nổ súng được giữ bí mật đến phút chót.

Giai đoạn chuẩn bị trực tiếp cho chiến dịch tính từ ngày 18 tháng Giêng đến ngày 4 tháng Ba là ngày ta bắt đầu cắt các đường 14, 19, 21 có tất cả 48 ngày.

“Thời gian được phân chia như sau:

Ngày 19 tháng Giêng đến ngày 28 tháng Giêng – Bộ tư lệnh chiến dịch xác định quyết tâm và làm các kế hoạch chiến dịch.

Ngày 2/02 đến 20/02 – Bộ tư lệnh chiến dịch tiến hành trinh sát chỉ huy, chủ yếu trên hướng thị xã.

Ngày 25/02 – Quyết tâm và kế hoạch đánh địch ở Buôn Ma Thuột được đồng chí Đại tướng Tổng tham mưu trưởng trực tiếp thông qua tại chiến trường.

Ngày 26/02 đến 27/02 – Làm kế hoạch hợp đồng chiến dịch và trận đánh thị xã.

Ngày 28/02 đến những ngày sau – Các đơn vị tiếp tục chiến đấu. Bộ tư lệnh và cơ quan kiểm tra, giúp đỡ, chủ yếu là đánh địch ở thị xã. Bổ sung cách đánh, giải quyết các vấn đề hiệp đồng, bảo đảm cơ động thông tin và hậu cần.

“Từ lúc lực lượng được triển khai đến ngày N, thời gian không dài quá mà cũng không ngắn quá. Dài quá, thay đi đổi lại thì dễ sơ hở, dễ lộ, địch sẽ có cơ hội để phản ứng. Mà ngắn quá thì ảnh hưởng đến việc chuẩn bị của các cấp. Tình hình dẫu khẩn trương đến thế nào cũng phải dành cho một đơn vị quân đoàn được chuẩn bị bảy ngày, cấp sư đoàn ba ngày, cấp trung đoàn bốn ngày vì còn phải phân chia cho các tiểu đoàn và đại đội. Có biết bao nhiêu việc phải làm: nào đạn, nào gạo, nào kéo pháo, nào ém quân, v.v. Về phía cơ quan chỉ huy của chiến dịch, chúng tôi cũng đặt ra những yêu cầu cụ thể:

- Vị trí chỉ huy chiến dịch chỉ được cách mục tiêu then chốt trong khoảng 6-7 cây số, càng gần càng tốt.

- Không có chỉ huy sở tiền phương. Tư lệnh ngồi ở tiền phương.

- Nếu có hai Chỉ huy sở, thì Chỉ huy sở cơ bản là ở hướng quan trọng nhất, chứ không phải ở phía sau.

Tức là bằng mọi cách, cơ quan chỉ huy chiến dịch phải gần được bộ đội, nắm được tình hình trực tiếp và nhanh chóng để có được những quyết định cũng nhanh chóng và chuẩn xác. Từ lúc ra ngồi ở cơ quan chỉ huy để tổ chức và đưa các lực lượng lần lượt vào tập kết ở các vị trí nhiệm vụ là quãng thời gian vô cùng hồi hộp, căng thẳng, lo âu. Kế hoạch thì như thế, nhưng trong vô vàn công việc để thực hiện có biết bao nhiêu tình huống muốn vỡ đầu. Không ăn gì được, chỉ uống thôi, cũng không ngủ được, cứ gà gật mươi phút lại mở choàng mắt nắm lấy điện thoại hỏi chỗ này, gọi chỗ kia vì chợt nhớ ra một chi tiết nào đó còn hồ nghi, còn lo lắng, cần phải kiểm tra một lần cuối. Một lần cuối rồi lại một lần cuối nữa, kiểm tra đi, kiểm tra lại, tự mình không đến được thì cử cán bộ đến, cho đến lúc nổ súng mới thật yên tâm hoàn toàn. Phải nói rằng chưa bao giờ chúng tôi được tham gia một chiến dịch nào đẹp như lần này, ưng ý về mọi mặt như lần này, vậy mà vẫn có những đêm, những ngày bồn chồn, lo lắng như ngồi trên chảo rang. Dẫu rằng kế hoạch có tài tình đến đâu vẫn cứ còn bao nhiêu chuyện không ai tính được trước đột nhiên xuất hiện.