Viết về giai đoạn chuẩn bị cho chiến dịch Tây Nguyên mà không được gặp và hỏi chuyện những đồng chí có trách nhiệm cao nhất thì thật ân hận vô cùng. Theo tôi biết, trong những ngày tháng có tính chất quyết định này, mỗi câp trên đều có cái vất vả, cái anh hùng của mình. Của cấp dưới thì báo chí đã viết và tất cả chúng ta đều rõ. Nhưng còn của cấp trên, của các cơ quan lãnh đạo chiến lược thì chúng ta hầu như chưa được biết. Vả lại, trong chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch sau đó, chiến dịch Hồ Chí Minh, thì sự chuẩn bị của cấp trên hầu như là tất cả. Sự chuẩn bị chính xác và chu đáo tới mức cuộc tiến quân gồm hàng chục vạn quân sĩ nào pháo, nào xe, nào lương thực, nào xăng dầu, đơn vị vào trước, đơn vị đến sau, nhiều ngả nhiều hướng mà vẫn nhịp nhàng, vẫn uyển chuyển, đúng hướng, đúng chỗ, đúng cả thời gian, hệt như một cuộc thao diễn đại quy mô các lực lượng vũ trang cách mạng trong cả nước.
Thôi thì, ai viết được phần nào, khía cạnh nào, giai đoạn nào của cuộc tổng tiến công này thì cứ viết. Viết đi rồi viết lại, kẻ trước người sau, năm mười năm nữa rồi chúng ta cũng sẽ có được một pho sử ký thật xứng đáng. Chính anh Lăng, nguyên là Phó tư lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên, quân đoàn trưởng quân đoàn 3, đảm nhiệm hướng tây bắc trong chiến dịch Hồ Chí Minh, cũng lấy làm tiếc cho tôi. Ngay như trong Bộ chỉ huy chiến lược Tây Nguyên, tôi cũng chưa được gặp hai nhân vật chủ chốt là anh Thảo, Trưởng tư lệnh và anh Hiệp, chính ủy. Bao giờ cũng thế, một công trình vừa được hoàn thành, những người anh hùng đã lại rong ruổi dặm dài đến những địa bàn mới, gánh vác những trách nhiệm mới. Tình cờ có được gặp lại họ, bày tỏ ý nguyện của mình, thì chắc chắn sẽ được trả lời: “Những việc làm dạo nọ ấy ư? Thì như các anh đã biết đấy, cũng chỉ là thế thôi” Và lập tức, các đồng chí ấy sẽ thuyết minh với anh về những công việc đang làm với những tính toán, những hy vọng, những lo âu, ánh mắt lấp lánh, giọng nói say sưa, nếu mình không tự chủ thì rất dễ quên bẵng đi cái ý định ban đầu.
Cho nên khi tôi yêu cầu được làm việc với anh Lăng vài ngày, có thể hơn thế nữa nếu như anh có thì giờ, anh tỏ vẻ ngạc nhiên:
‘- Làm thì lâu chứ kể lại có mấy, chỉ một tối là đủ”
Rồi anh lại hỏi tôi:
“-Nhưng biết kể với nhà văn cái gì? Các anh viết văn thì cần những câu chuyện gì?”
Tôi vội trả lời là mọi việc các anh đã làm đều thuộc về văn học cả, không có gì phải lược bỏ. Giả dụ rằng nếu viết tất cả như thế thì sẽ là một bản báo cáo chứ không thể là sáng tác văn học, thì tôi cũng bằng lòng làm người viết báo cáo. Làm báo cáo trước, làm văn học sau, bao giờ rỗi rãi sẽ làm văn, còn lúc này thì cần làm người thuật chuyện. Có lẽ bạn đọc hiện nay cũng đang thích như thế, đang muốn đọc một bản tường trình cặn kẽ như thế?
Đây là tối thứ nhất anh Lăng nói chuyện.
“Rất tiếc là anh không gặp được tất cả các anh trong Bộ tư lệnh chiến dịch, tức là anh Thảo, anh Hiệp, anh Hàm, anh Năng. Tuy nhiên, chúng tôi đã làm báo cáo tổng kết, bàn bạc và nhất trí với nhau về tất cả các vấn đề lớn, lại được đồng chí Đại tướng Tổng tham mưu trưởng, người chỉ đạo và chỉ huy trực tiếp chiến dịch này xét duyệt và chỉ thị nhiều ý kiến. Như thế cũng đã là may mắn cho công việc của chúng ta rồi. “Tôi về chiến trường Tây Nguyên (còn gọi là B3) thay anh Thảo tháng Sáu năm 1974. Anh Thảo tuy đi nhận nhiệm vụ mới, nhưng kiến thức và kinh nghiệm của anh trong nhiều năm dài ở Tây Nguyên đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Đó cũng là một may mắn cho những người đến sau. Như anh đã biết, trước ngày về đây, tôi làm việc ở Cục tác chiến của Bộ tổng tham mưu, là một cán bộ có trách nhiệm ở một cơ quan chiến lược nên có điều kiện để so sánh, xem xét và tổng kết các kinh nghiệm. Anh Lê Trọng Tấn có nói “Ở Bộ về quân khu nếu làm ăn tốt là do đã có được một tầm nhìn rộng”. Khi đi cũng có giao ước với anh em trong Cục tác chiến là khi nào chuẩn bị những vấn đề mới thì nhớ khêu gợi bọn mình. Nếu được biết trước chiến trường mình nằm trong phương hướng chiến lược thì anh em sẽ chủ động hơn, thời gian chuẩn bị cũng rộng rãi hơn. Tháng 9 năm 1974, Cục tác chiến cũng đã rỉ tai cho biết về ý định của cấp trên trong năm 1975. Dưới này, bọn tôi sau khi đã xem xét tình hình của quân khu cũng tin rằng trong năm 1975 có thể làm được một cái gì đó có tính chất bản lề. “Sau ngày ký hiệp định Pa-ri, để chống lại âm mưu lấn chiếm của chính quyền nguỵ Sài Gòn, chúng ta đã tiêu diệt các cứ điểm địch nằm sâu trong vùng giải phóng như Chư Nghé, như Đắc Pét, như Măng Đen, Măng Búc. Địch co về củng cố tuyến phòng thủ vành đai các thị xã, các trục đường chiến lược và các mục tiêu chủ yếu. Mỹ rút quân, sự viện trợ của Mỹ đối với nguỵ quân dần dần giảm bớt đã tác động rất lớn đến phương thức tác chiến và thủ đoạn chiến thuật của địch. Lực lượng địch bố trí tại năm tỉnh cao nguyên là một sư đoàn (sư 23), 6 liên đoàn biệt động quân và 36 tiểu đoàn bảo an. Thiết giáp thì có 12 chi đoàn, tức là 4 thiết đoàn. Pháo binh có 230 khẩu. Không quân có sư đoàn 6, gồm 4 phi đoàn, khoảng 150 chiếc máy bay các loại. Quân địch như thế là đông, nhưng địa bàn quá rộng, những 45.000 km2 nên hóa ra phải dàn mỏng. Khả năng cơ động của chúng chủ yếu bằng đường bộ, dựa trên 3 trục đường chính: đường 14 chạy suốt hướng bắc-nam tới tận đông nam bộ, đường 19 nối đồng bằng khu 5 lên Plây-cu và đường 21 từ Buôn Mê Thuột đi Khánh Hòa. Đường 7 từ Cheo Reo ra Phú Yên đã từ lâu địch bỏ vì hoạt động của bộ đội địa phương Phú Yên ở khu vực này rất mạnh. Còn vận chuyển đường không cũng là vạn bất đắc dĩ, máy bay vận tải ít, xăng dầu hiếm, không thể mỗi lúc sử dụng tùy tiện được. Có đường thì sẽ có cách khóa đường. Có máy bay thì sẽ có cách khống chế sân bay. Thằng Mỹ lắm lúc còn chết cứng nữa là thằng nguỵ. Đó là một chỗ yếu của địch. Chúng ta sẽ có cách tính toán khoét rộng cái chỗ yếu đó ra. Còn lực lượng của chúng ta ở chiến trường này trong năm 1974? Hết sức lạc quan!
“Từ sau hiệp định Pa-ri, quân khu đã dành ra một quân số thích đáng để làm nhiệm vụ sản xuất. Các cơ quan xung quanh Bộ tư lệnh đều có nương rẫy và khu vực chăn nuôi riêng. Sự chi viện của miền bắc trong hai năm 1973, 1974 là hết sức dồi dào: người, vũ khí, quân trang, lương thực.
“Khi tôi về B3 nhìn cán bộ, chiến sĩ thấy rất khác với dự đoán của mình: khỏe mạnh, tươi vui, nơi ăn chốn ở hết sức đàng hoàng, như ở ngoài bắc vậy. Mà có khi còn hơn cả ngoài bắc vì ở đây mổ một con lợn không phải bàn tính gì nhiều lắm. Tối tối, đặt nồi cháo gà là chuyện hết sức bình thường. Thế là vui rồi. Làm tư lệnh mà thấy quân khoẻ, lương nhiều tức là đã cầm chắc tới quá nửa phần thắng. Lại nữa, chí khí chiến đấu rất cao. Nói chuyện với ai cũng thấy có ý nguyện là phải tấn công thôi, phải dùng bạo lực vũ trang mà mau chóng hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Cán bộ thì sợ để chậm trễ quá tuổi sẽ già đi, sức sẽ yếu đi. Anh em trẻ thì muốn “làm ăn” cho mau mau còn bắt tay làm những việc khác. Lòng người đã nhất tâm như thế là rất thuận.
“Từ sau năm 1972, bộ đội Tây Nguyên chưa đánh một trận nào lớn tới một trung đoàn hoặc một sư đoàn thiếu. Năm 1975 sẽ phải đánh ít nhất là bằng lực lượng của mình, tức là hai sư đoàn, có thể thêm hai trung đoàn hoặc một sư đoàn của Bộ chi viện trong thời gian chiến dịch. Đánh lớn, quân đông đòi hỏi năng lực tổ chức và chỉ huy của các cấp phải phù hợp với nhiệm vụ. Một kinh nghiệm của tôi là Tư lệnh phải trực tiếp huấn luyện bộ đội, nhất là cán bộ, không thế không chỉ huy được. Bộ đội phải do mình trực tiếp xây dựng thì đánh mới thực chắc tay. Có hiểu rõ cán bộ và chiến sĩ của từng đơn vị mới hạ quyết tâm được, mới quyết đoán được. Bộ tư lệnh liền tổ chức hai lớp tập huấn cho cán bộ cấp sư đoàn, trung đoàn và các tiểu đoàn chủ chốt. Nội dung tập huấn là: nghệ thuật chiến dịch tấn công và nghệ thuật chiến dịch phản công. Thấy hết được vai trò của chiến thuật trong nghệ thuật chiến dịch. Thống nhất với nhau về cái gọi là những trận đánh then chốt, những trận đánh có ý nghĩa nổ truyền trong một chiến dịch. Sau đó, cấp sư về bàn bạc lại với cấp trung đoàn, cấp tiểu đoàn và đại đội. Đó là sự chuẩn bị rất cơ bản về lãnh đạo và chỉ huy trước khi bước vào mùa xuân năm 1975.
“Lại nói tới một vấn đề khác, cũng hết sức quan trọng, vì nó là cơ sở của mọi chiến thuật. Tức là quân số. Chiến thuật gì thì cũng phải có đủ người. Một tiểu đội phải có 7 người, ít ra cũng phải có được 5, 6 người. Chứ nếu chỉ có 3 người thì không thể gọi là một tiểu đội. Tiểu đội không thành thì trung đội, đại đội cũng không thành. Nên quân số là quan trọng, quân số đủ thì mới đảm bảo được việc thực hiện chiến thuật. Trong lịch sử chiến đấu của bộ đội Tây Nguyên, chưa bao giờ ra quân đủ như lần này: một tiểu đoàn là 400 người. Trước kia, ra quân 300 người còn khó. Ra quân đông người, đi chiến đấu nhìn trước quay sau, ngó trái, liếc phải đều thấy đồng đội thì sẽ rất phấn chấn. Cán bộ nghe tiếng hát to, nhịp đi mạnh, trong lòng cũng vui. Khí thế của lúc lên đường cũng nhờ vào đó một phần. Lúc này đánh một trung đoàn địch chỉ lo không diệt gọn chứ không lo không đánh được. Không ai nghĩ là địch mạnh nữa, mà chỉ bàn tính làm sao trận đánh diễn ra cho nhanh, diệt địch cho gọn, và chúng ta chỉ chịu tổn thất rất ít. Chuẩn bị lực lượng như vậy là yên tâm, dẫu tình hình sẽ là như thế nào vẫn cứ xoay chuyển kịp vì mình đã ở trong tư thế sẵn sàng.
“Mùa hè năm 1974, chúng tôi đã kết luận rằng các đơn vị thuộc quân đoàn 2 ngụy đã sút giảm sức chiến đấu. Khi ta tấn công vào một trung đoàn tăng cường của ngụy thì chúng không đủ sức chống đỡ. Chúng đưa một sư đoàn thiếu thì không đủ sức giải vây. Trong trận đánh ở Plây-me, thiết giáp của nó toàn đứng sau đội hình bắn với lên, nếu bị đánh từ phía lưng là lập tức tháo chạy. Quân đoàn 2 ngụy chỉ đủ sức đối phó với một sư đoàn của ta trên một hướng. Nếu ta đánh lớn hơn, trên nhiều hướng, nhất định chúng sẽ bị lúng túng. Sau trận đánh ở Thượng Đức, chúng tôi tin rằng trong vòng hai năm tới có thể giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên. Tháng 10 năm 1974, đồng chí tham mưu phó của B3 ra Bộ báo cáo đã trở về, mang theo mệnh lệnh tác chiến mùa khô: đánh Thuần Mẫn, đánh Đức Lập và đánh thị xã Gia Nghĩa, mở thông xuống đường 20, nối vùng giải phóng Tây Nguyên với miền đông Nam bộ. Đánh Thuần Mẫn và Đức Lập, chúng tôi đã có dự tính trước. Còn đánh Gia Nghĩa không phải đất của quân khu, đến bản đồ cũng không có. Địa hình chưa rõ, đường sá chưa làm, tuyến vận chuyển xa, bộ đội hành quân cũng xa, mùa mưa chưa dứt, thời gian chuẩn bị tính ra chỉ còn được hai tháng. Thế là đủ vỡ đầu rồi! Nhưng đã là lệnh thì phải chấp hành, chấp hành cho xuất sắc. Khó thế chứ khó nữa cũng phải nghiến răng lại mà làm. Giữa tháng 10 đã có những đơn vị công binh, hậu cần, trinh sát đi trước. Còn các đơn vị khác đều đã sẵn sàng. Giai đoạn chuẩn bị cơ bản đã xong, chỉ còn đợi lệnh là bắt tay vào những nhiệm vụ cụ thể.
“ Tôi là một cán bộ quân sự của Đảng từng trực tiếp chỉ huy bộ đội tham gia nhiều chiến dịch, có thể nói là có chút ít kinh nghiệm đánh địch, nhưng lại chưa được ở một chiến trường nào thật lâu. Nay vào một chiến trường chiến đấu và sinh hoạt đều rất gian nan, không khỏi lo rằng anh em chưa tin mình. Lòng tin của cấp dưới với cấp trên là rất quan trọng. Trong chỉ huy chiến đấu, có lúc cấp dưới chỉ làm theo mệnh lệnh mà không có thì giờ để bàn cãi trái phải. Nếu đã tin nhau thì khó mấy cũng làm, dẫu có ngược với dự tính của mình vẫn cứ làm. Còn chưa tin lắm, chưa tin hẳn thì có làm cũng không được triệt để, vừa làm vừa ấm ức, vừa làm vừa nghi ngại. Bụng đã hồ nghi thì hễ gặp khó là sinh chuyện ngay. Muốn cho cấp dưới thật tin thì cấp trên phải sâu sát, phải biết cách kiểm tra và có ngay những ý kiến chuẩn xác trong việc giải quyết khó khăn của cấp dưới. Cấp dưới báo cáo đều đặn lên cấp trên là một kỷ luật phải nghiêm giữ. Nhưng không có báo cáo nào ích lợi bằng tự mình đến tận nơi. Không phải anh em cố ý che đậy, dối trá trong các báo cáo. Hoàn toàn không phải thế. Chỉ vì nhận thức của mỗi cấp đều có hạn. Cái mình cần thì anh em nghĩ là nhỏ, cái không cần lại nghĩ là to. Nhiều vấn đề lúc chuẩn bị thì tưởng là nhỏ, nhưng trong diễn biến chiến đấu lại hóa ra to, rất to. Chuẩn bị nhỏ mà phải đối phó to, hoặc phải đương đầu với một tình thế chưa hề có chuẩn bị là hết sức rắc rối. Là người chỉ huy không thể để bit dồn vào cái chỗ kẹt ấy. Cho nên Tư lệnh phải có mặt ở hướng chủ yếu và ở những trận đánh then chốt. Có mặt từ lúc chuẩn bị. Đánh là phải có bài bản, phải có sự kết hợp, phải có sự kết hợp giữa các trận đánh theo một ý đồ thống nhất, trọn vẹn của một chiến dịch. Đánh ngắc ngứ là do thiếu chuẩn bỉ. Mà phải chuẩn bị theo cách nghĩ của mình. Muốn đánh có bài bản thì chuẩn bị cũng phải có bài bản. Đầu tháng 12, Bộ tư lệnh phân công tôi trực tiếp đi chuẩn bị trận đánh Đức Lập, anh Năng là Phó tư lệnh thì chuẩn bị cho trận đánh hướng Gia Nghĩa. Lúc này cũng mới nghĩ đến có hai bàn đạp là là Đức Lập và Thuần Mẫn. Đánh Đức Lập rồi phát triển xuống Gia Nghĩa, giải phóng tỉnh Quảng Đức, mở thông đường 20, nối liền Tây Nguyên với miền đông Nam Bộ. Đánh Thuần Mẫn rồi phát triển ra Cheo Reo, giải phóng tỉnh Phú Bổn, mở đường xuống 3 tỉnh phía nam khu 5. Đánh như thế là lớn, lại bằng lực lượng của mình, nhưng tin là làm được. Chúng tôi tin chắc rằng sẽ đánh được vì thực lực của ta và địch đều đã thay đổi. Cũng đã có nghĩ đến Buôn Ma Thuột, cấp trên cũng đã gợi ý nếu có thời cơ thì sẽ đánh Buôn Ma Thuột. Vậy thế nào là thời cơ? Phải chuẩn bị trước kẻo việc đến nơi là lúng túng lắm. Khi báo cáo tình hình tác chiến với Đảng ủy quân khu, tôi cũng đặt vấn đề “Thế nào là thời cơ?”. Theo chúng tôi nghĩ: thời cơ sẽ xuất hiện khi ta đã tiêu diệt gọn hai chi khu quan trọng là Thuần Mẫn và Đức Lập, khi chúng ta đã đánh tan các lực lượng phản kích ở phía tây sông Sê-rê-pốc và từ Plây-cu kéo xuống, khi tình hình chung đã như thế mà lực lượng địch trong thị xã Buôn Ma Thuột vẫn chỉ là một trung đoàn thì khi ấy là đã có thời cơ để giải phóng Buôn Ma Thuột.
“Quận lỵ và chi khu quân sự Đức Lập nằm trên đường 14, cách thị xã Buôn Ma Thuột 60km về phía tây nam, gồm 5 cứ điểm, nhưng có 3 cứ điểm phải chú ý: căn cứ 23, căn cứ Núi Lửa và quận lỵ. Lực lượng chiếm giữ của địch có một tiểu đoàn của trung đoàn 53 thuộc sư đoàn 23, hai tiểu đoàn bảo an, 15 khẩu pháo, 20 xe thiết giáp. Anh em cùng đi nghĩ rằng tôi đã có tuổi, sức lại yếu, vào sâu quá vừa mệt vừa nguy hiểm nên muốn tôi dừng lại ở Nậm Lia, từ đó mà quan sát cũng vẫn tốt. Tôi thì nghĩ trận này là trận mở đầu của một mùa chiến đấu, đánh nhanh, thắng to, hao tổn ít thì sẽ ảnh hưởng tốt tới quyết tâm các trận sau nên khó mấy cũng phải nhào tới vị trí của cấp trung đoàn. Đứng xa nhìn khác, vào gần nhìn khác, vào càng gần cách tính toán sẽ càng chính xác hơn. Ví như trận địa của trung đoàn 28 đánh căn cứ Núi Lửa, phía tây Đức Lập. Nếu không vào tận nơi, rất khó có ý kiến thật đúng về cách tổ chức hỏa lực bắn thẳng, rồi đuờng kéo pháo, rồi tổ chức hỏa lực hướng tấn công. Tôi ưa dùng hỏa lực, nhưng là hỏa lực bắn thẳng, thời gian ngắn, hiệu quả to. Muốn gì thì quả thứ 3 là phải trúng mục tiêu. Trong vòng hai phút, các loại đạn pháo của anh phải rơi trúng những mục tiêu cơ bản. Anh em có ý kiến là phải 5, 6 phút mới trúng mục tiêu. Tôi không đồng ý. Hỏa lực cơ giới bắn cầu vồng phải năm, sáu chục viên mới trúng được mục tiêu, còn bắn thẳng thì chỉ sau 3 viên là phải trúng. Cùng đi với tôi có cán bộ sư đoàn, cán bộ trung đoàn tấn công, tiểu đoàn trưởng các tiểu đoàn chủ công, tính toán với nhau rồi hỏi: còn điều gì nghi ngại, còn vấn đề nào cảm thấy khó thì nói liền đi, bàn luôn, rồi quyết định luôn. Bàn tính xong xuôi, tôi hỏi đồng chí trung đoàn trưởng trung đoàn 28: “ Anh nhận đánh căn cứ này là bao nhiêu phút?”. Đồng chí đó cười: “Xin được 1 giờ”. Tôi đồng ý: “Thật ra cũng chỉ cần 1 giờ”. Rồi tất cả theo tôi đi quan sát căn cứ 23 và trận địa của trung đoàn 66, phía bắc Đức Lập.
“Gần đến nơi thì xảy ra một chuyện tưởng là vặt, mà không khéo lại hóa ra rày rà. Một nhóm trinh sát vì để lộ nên phải bắt giữ một người đánh dấu cây cho nhà thầu đốn gỗ. Giữ người lại là phiền lắm. Bỗng dưng sao mất tích một người? Một người bị mất tích xung quanh căn cứ của nó, tất nhiên là phải ngờ ngay đã bị Việt Cộng bắt giữ. Lâu nay vắng bóng họ, đột nhiên họ lại xuất hiện, vậy là không bình thường rồi. Từ đó mà nghĩ đến những hiện tượng khả nghi khác, lập ra giả thuyết khác, để mắt vào chỗ này chỗ kia. Cái nhỏ làm hỏng cái lớn vốn bắt đầu chỉ là như thế. Nhưng có cái may là người đánh dấu cây kia đang là một bên của một vụ kiện. Ông chú bị cây đè chết, bà thím nghi là cháu đặt bẫy giết chú nên đã phát đơn kiện. Nay anh ta bỗng dưng biến mất thì chắc hẳn sẽ được cắt nghĩa là sợ tội mà bỏ trốn. Rồi đây trận đánh kết thúc, phải có giấy tờ hẳn hoi để rửa oan cho người ta. Thế là tạm xong một việc rắc rối bắt gặp dọc đường.
“Căn cứ 23 cũng chỉ cần đánh trong 1 giờ. Núi Lửa 1 giờ. Căn cứ 23, 1 giờ. Quận lỵ Đức Lập cho hẳn là 1 ngày. Rộng ra là trong hai ngày phải giải quyết xong chi khu Đức Lập, kể cả lùng bắt tàn binh, thu dọn chiến trường. Được không? Sư trưởng sư 10 thì muốn nới thêm 1 ngày nữa, tức là từ 2 đến 3 ngày. Tôi phải tính toán luôn: Chúng tôi sẽ báo cáo với Bộ là từ hai đến 3 ngày, nhưng cấp sư chỉ được phép đánh trong 1 ngày. Thực ra chỉ cần có 1 ngày, tôi đã cho anh dôi thêm 1 ngày nữa thế là quá rộng rồi. Lại giao hẹn: xong ngày thứ nhất, tôi sẽ lấy của anh trung đoàn 24 để phối hợp cùng với một trung đoàn của sư 316 đánh quân phản kích phía tây sông Sê-rê-pốc. Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ được phép dùng hai trung đoàn 66 và 28 vào trận đánh, không cho phép dùng trung đoàn 24 là lực lượng dự bị của sư.
“Trinh sát xong khu vực Đức Lập, lại kéo nhau sang phía tây sông Sê-rê-pốc, là địa bàn tác chiến của sư 316 đánh quân ứng cứu từ Buôn Ma Thuột kéo ra. Anh em mới vào, chiến trường chưa quen thuộc nên càng phải bàn tính cho cặn kẽ, tỉ mỉ. Tôi vốn là người mê phong lan, mà khu vực phía tây sông Sê-rê-pốc có lắm thứ hoa lạ kỳ. Đi trong rừng, chỉ những vấp là vấp vì còn mải ngửa cổ ngắm hoa. Bụng bảo dạ công việc xong xuôi nhất định phải trở lại đây, lang thang vài ngày kiếm ít rò lan thật đẹp. Chỗ mình định đến thì địch còn đang cưa gỗ, máy nổ ầm ầm, mà trời đã quá trưa rồi. Định vào rồi ra ngay, nếu chần chừ lại mất thêm một ngày nữa. Đúng 4 giờ 30 chúng mới rút, chúng đi xuôi, mình chạy ngược, cách nhau chỉ trong khoảng mấy mươi thước. Vừa chạy vừa nhảy qua những gốc cây, thân cây, do dân ngả để làm nương, do lính nó cưa để lấy gỗ, chạy được vài bước lại nhảy một đoạn dài, chạy nhảy cả giờ mới lên được vị trí quan sát. Cũng đoạn đường ấy lúc lộn về mất gần ba tiếng đồng hồ. Đến nơi nghỉ, kiểm lại quân số thiếu mất hai người, một bác sĩ quân y và một tiểu đoàn trưởng pháo binh. Cho anh em trinh sát chia làm mấy ngả quay lại tìm, người đi tìm đành là thức trắng, nhưng những người ngồi chờ tin cũng không thể ngủ. Chỉ lo có chuyện gì xảy ra rồi sẽ ân hận không biết thế nào. Trời đã sáng hẳn, vừa mới đặt lưng chợt nghe có tiếng cười ầm ầm phía ngoài. Họ đã về! Hú vía! Thì ra hai người xuống suối lấy nước đổ bi-đông, vì đã chịu khát cả buổi chiều, lúc lên thì tốp đi trước đã mất hút. Ông bác sĩ cứ nắc nỏm khen mãi đồng chí tiểu đoàn trưởng pháo binh tìm đường trong đêm quá tài, thấy ngó ngó vào địa bàn lại ngó ngó vào bản đồ cuối cùng cũng lần mò được ra cái địa điểm vô danh đã hẹn trước. Nghỉ hẳn lại hai ngày. Đêm sau đồng chí trợ lý tác chiến vác súng xin phép được đi bắn bò rừng lấy thịt khao quân. Khi chiều ra nương thấy có vết móng bò rừng. Người ấy đã nổ súng, không hạ được con này cũng con kia. Quả nhiên có bò rừng thật, phải bốn, năm tạ thịt, ăn một góc, còn lại lọc thịt nước qua làm lương khô ăn dọc đường về chỉ huy sở khu B. Chúng tôi ăn mừng ba mươi năm thành lập quân đội, ăn mừng một năm mới đã bước sang được vài ngày, ăn mừng một chuyến đi trinh sát hết sức như ý. Rồi hẹn nhau sang năm, bằng giờ sang năm chúng ta sẽ lại tổ chức một bữa tiệc dọc đường, nhưng là ở một hướng khác, ở Công Tum hay Plây Cu, hoặc trên những đường lớn chạy thông ra biển. Chỉ sang năm 1976 nhất định chúng ta phải với tay xuống biển, một vùng cao nguyên đã được giải phóng, từ đó muốn làm gì cũng được, muốn lên bắc hay xuống nam đều được hết. Hẹn nhau thế, nào ai ngờ… Nhưng trước khi thốt lên cái câu thật sảng khoái: cũng không ngờ! thì còn có bao nhiêu đêm ngày không ngủ, không ăn, đầu óc căng thẳng vì những phương án, những kế hoạch, rồi những hồi hộp, những lo lắng, những bồn chồn. Đó là tình hình của tháng Giêng và tháng Hai, nhất là nhữngt ngày của tháng Hai năm 1975. Vì chỉ vừa bước chân vào chỉ huy sở khu B đã nhận được điện của Bộ: “Trinh sát kỹ cả mục tiêu A”. Mục tiêu A là Buôn Ma Thuột…”.