Sidebar

  • TRANG CHÍNH
  • LƯỢC SỬ TÓM TẮT
  • CHUYÊN ĐỀ
  • CỔ SỬ
  • THƯ VIỆN
  • ẢNH LỊCH SỬ
Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history
  • TRANG CHÍNH
  • LƯỢC SỬ TÓM TẮT
  • CHUYÊN ĐỀ
    • Nhân vật
    • Sự kiện
    • Hiện vật
    • Di tích
    • Hồi ký
  • CỔ SỬ
    • Đại Việt sử ký toàn thư
    • Huyền sử, dã sử
  • THƯ VIỆN
  • ẢNH LỊCH SỬ
    • Việt Nam triều Nguyễn

Vụ án Hương Cảng

Vụ án Hương Cảng

Nói thêm về vụ án Hương Cảng

Details
Vụ án Hương Cảng
16 August 2007
Hits: 4138

Đúng vào dịp 115 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2005), ông Pôn Tác, cháu của luật sư Lô -dơ-bi đã tới Hà Nội. Tại phòng khách của Bảo tàng Hồ Chí Minh, ông Pôn Tác đã được đón tiếp nồng hậu và chân tình như một người thân mới trở về đại gia đình Việt Nam.

Đó là một người đàn ông cao lớn với gương mặt hiền hậu đầy vẻ nhiệt tình chân thực. Qua chuyện trò với ông, chúng ta được biết thêm đôi điều về những ân nhân đã giúp Tống Văn Sơ thoát khỏi bàn tay của mật thám Pháp năm xưa.

Ông Pôn Tác cho hay rằng luật sư F.H.Lô-dơ-bi sinh tại Anh, hơn Tống Văn Sơ 7 tuổi, và mất trước Tống Văn Sơ 2 năm (1967). Khi luật sư Lô-dơ-bi qua đời tại Hương Cảng, người vợ và con gái đã thông báo xin không nhận hoa viếng của bất cứ ai, hai mẹ con chỉ duy nhất đón nhận vòng hoa viếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong suốt 60 năm hành nghề tại Hương Cảng, luật sư Lô-dơ-bi nổi tiếng là một luật sư tài ba, luôn sẵn sàng bào chữa cho bất kỳ ai dù người đó là giàu hay nghèo, ông luôn trung thành với nguyên tắc là mọi người phải được bình đẳng trước pháp luật, chưa bao giờ người ta thấy vị luật sư này bị khuất phục hoặc bào chữa theo sự sai khiến của những kẻ giàu có.

Năm 1924, luật sư sau khi làm việc trong quân đội Anh trong thế chiến thứ nhất, trở về Luân Đôn, ông đã lập gia đình với Rô-da Brao-nơ (Rosa Brown) và năm sau, 1925, sinh Pa-tơ-ri-xi-a - người con gái duy nhất. Năm 1926, luật sư Lô-dơ-bi sang Hương Cảng làm việc tại văn phòng luật sư Russ & Co và 2 năm sau, ông mua lại văn phòng này.

Trước khi bào chữa cho Tống Văn Sơ, luật sư Lô-dơ-bi cũng đã từng bào chữa thành công cho một nhà cách mạng Việt Nam bị chính quyền Hương Cảng bắt và định giao cho thực dân Pháp.

Khi Hương Cảng bị quân phiệt Nhật đánh chiếm, luật sư Lô-dơ-bi đã tham gia đội quân tình nguyện bảo vệ Hương Cảng và cả gia đình đã bị phát xít Nhật bắt giam từ tháng 1/1942 đến 8/1945 tại nhà tù Xtan-lây (Stanley).

Chính trong thời gian này, ngôi nhà của vợ chồng luật sư bị đốt cháy, đồ đạc đều bị thiêu trụi, trong đó có cả cuốn nhật ký mà Tống Văn Sơ trao gửi trước khi rời khỏi Hương Cảng đầu năm 1933.

Thời gian ở trong nhà tù Xtan-lây, lúc đó, cô bé Pa-tơ-ri-xi-a bước vào tuổi 17, đã được cha truyền dạy cho nghề luật sư. Sau 3 năm bị giam cầm, gia đình luật sư Lô-dơ-bi thoát khỏi cảnh tù đày khi phát xít Nhật phải đầu hàng đồng minh, tiếp tục sinh sống và hành nghề luật sư tại Hương Cảng.

Riêng Pa-tơ-ri-xi-a tiếp tục theo học luật và cho đến năm 1955, khi bố nghỉ hưu, Pa-tơ-ri-xi-a chính thức thay cha điều hành văn phòng luật sư Russ & Co cho mãi tới năm 1995 thì nghỉ hưu. Kể từ khi cha, mẹ qua đời (1967 và 1975), Pa-tơ-ri-xi-a vẫn sống một mình, không lập gia đình, không con cái.

Một điều đặc biệt là suốt 4 chục năm trời, dù phải di chuyển chỗ ở đi đâu Pa-tơ-ri-xi-a cũng đem theo bức tranh thêu Chùa Một Cột mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng gia đình năm 1959.

Ông Pôn Tác kể : “Năm 1987, tôi sang sống và làm việc tại Hương Cảng cho tới năm 1996. Trong suốt thời gian này tôi luôn rất gần gũi với Pa-tơ-ri-xi-a. Pa-tơ-ri-xi-a lại sống độc thân và không có con nên tôi càng quan tâm và chăm sóc.

Image
Ảnh chụp bức tranh thêu Chùa Một Cột của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tặng gia đình Luật sư Lô - dơ - bi, dịp Nôen 1959 (Hiện vật lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Tôi còn nhớ, cứ mỗi lần đến thăm nơi ở của Pa-tơ-ri-xi-a, tôi hết sức chú ý đến bức tranh và được nghe Pa-tơ-ri-xi-a kể với sự xúc động đặc biệt về lịch sử của bức tranh thêu liên quan đến luật sư và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Rất cảm kích về câu chuyện lịch sử đó, năm 1992, khi đến thăm Hà Nội, tôi đã tìm đến Chùa Một Cột chiêm ngưỡng vẻ đẹp độc đáo của nó và đi vòng quanh Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Đến năm 1994, Pa-tơ-ri-xi-a bắt đầu ốm và tôi được giao chăm nom mọi công việc trong văn phòng và thật là buồn khi Pa-tơ-ri-xi-a đã không thể qua khỏi và mất tại Anh tháng Giêng năm 2001. Từ đó, tôi trở thành người trông coi và chăm sóc bức tranh Chùa Một Cột.

Trong thời gian Pa-tơ-ri-xi-a bị ốm, tôi luôn ở bên cạnh. Chúng tôi đã trao đổi và nói chuyện về nhiều vấn đề, trong đó có một việc mà Pa-tơ-ri-xi-a đặc biệt quan tâm là bức tranh Chùa Một Cột- kỷ vật của chú Tống”.

Pa-tơ-ri-xi-a trăng trối rằng, nếu sau này cô tạ thế, thì bức tranh ấy bằng mọi cách phải được trở về với nhân dân Việt Nam. Tôi đã hứa với Pa-tơ-ri-xi-a chắc chắn sẽ thực hiện ý tưởng đó để tưởng nhớ đến những người có liên quan đến bức tranh này đã sang thế giới bên kia. Tuy Pa-tơ-ri-xi-a không có con nhưng tôi có thể khẳng định rằng Việt Nam không bao giờ quên cô và gia đình cô.

Bây giờ, đã đến lúc khép lại một chương đặc biệt của lịch sử bức tranh thêu Chùa Một Cột và cũng là lịch sử của một luật sư và một thân chủ đã trở thành Chủ tịch một nước.

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 115 ngày sinh của Người, tôi xin kính cẩn trước sự nghiệp của Người và của nhân dân Việt Nam. Tôi cũng xin kính cẩn đối với một người nữa luôn trung thành với những nguyên tắc của cuộc sống, đó là ông chú tôi F. Lô-dơ-bi mà hôm nay tôi được vinh dự thay mặt để trao lại cho nhân dân Việt Nam bức tranh thêu Chùa Một Cột”.

Vụ án Hương Cảng - Kỳ 6: Cuộc vượt biên thần kỳ

Details
Vụ án Hương Cảng
13 August 2007
Hits: 4950
Image
Trang phục do gia đình luật sư Lô-dơ-bi chuẩn bị cho Nguyễn ái Quốc cải trang để ra khỏi Hương Cảng (ảnh tư liệu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Ai cũng biết, Hương Cảng là một hòn đảo bốn bề là biển cả. Lúc đó, ai ai đi khỏi đảo này đều phải dùng tàu thủy hay thuyền, xuồng, ngoài ra không còn đường nào khác. Hơn nữa, tàu, thuyền dù cập bến hay rời bến, đều phải chịu sự quy định, giám sát của chính quyền địa phương. Tại các bến ấy, cảnh sát, mật thám chìm nổi suốt ngày trà trộn theo dõi để phát hiện, bắt giữ những “phần tử” có tên trong “sổ đen”. Bởi thế, không thể nào đảm bảo được tính mạng, nếu ông Tống lên tàu tại bến chính quy. Ông bà luật sư Lô-dơ-bi và ông Tống đều biết rất rõ điều đó.

Chính vì vậy, ba người đã vắt óc và cuối cùng ông Tống đã đề ra một kế hoạch mà ông bà luật sư rất tán đồng, cho là một kế hoạch táo bạo và thần kỳ, trong đó, “diễn viên chính” là ông Thống đốc Hương Cảng Uy - li - am Pin (William Peel).

Dạo ông Tống còn nằm trong bệnh viện, vào một buổi chiều thu khi mùa sen đã gần hết, bà Lô-dơ-bi, trước khi vào thăm ông Tống, đã ra chợ, đi hết hàng này, hàng khác cố tình mua cho được mấy bông hoa sen.

Bà đang tìm hỏi những người bán hoa thì gặp một bà bạn. Thấy bà Lô-dơ-bi lật đật lùng mua hoa sen thì lấy làm lạ, liền rảo bước tới gần gặng hỏi bà mua hoa sen để làm gì....

Không trả lời bạn, bà Lô-dơ-bi hỏi lại xem bà ấy có biết ở đâu còn hoa sen. Bà kia càng thấy lạ càng gặng hỏi vì người Âu châu nói chung không thích hoa sen lắm.

Bà Lô-dơ-bi đành phải vắn tắt rằng mua sen để tặng một người bạn An Nam tuyệt vời, thông minh tài giỏi và lịch lãm, hiện đang nằm điều trị trong bệnh viện.

Người bạn gái kia tên thật là Xten-la Ben-xơn (Stella Benson), phu nhân của quan Phó thống đốc Hương Cảng, ngài Tô-ma Xac-thơn (Sir Thomas Sactherns); đồng thời là một văn sĩ nổi tiếng Anh quốc lúc đó với bút danh là Vớc-gi-ni-a U-ôn-phơ (Virginia Woolf).

“Linh cảm” nghề nghiệp mách bảo bà Ben-xơn về một nhân vật cho một đề tài hấp dẫn, vậy nên, nữ văn sĩ nằng nặc đòi bà Lô-dơ-bi tạo điều kiện cho tiếp xúc với ông Tống.

Thấy đây cũng là dịp tạo thêm tiếng nói ủng hộ ông Tống, bà Lô-dơ-bi đã dẫn nữ sĩ U-ôn-phơ tới thăm ông Tống tại bệnh viện. Buổi gặp mặt tuy ngắn ngủi nhưng đã để lại những cảm xúc mạnh mẽ trong tâm hồn nữ văn sĩ này.

Ngay tối hôm đó, trở về nhà riêng, nữ văn sĩ đã thực sự nổi giận với chồng - ông Phó thống đốc Xac-thơn.
Thoạt đầu, ông Phó thống đốc hết sức ngạc nhiên trước sự căm giận của vợ đối với chính quyền Hương Cảng trong việc hãm hại một con người tuyệt vời khiến cho ông ta ốm yếu đến thế.

Sau đó, bà vợ đã kể cho ông phó thống đốc nghe rằng bà vừa đi thăm và chuyện trò với ông Tống và hết lời ngợi ca người cách mạng An Nam này.

Mấy hôm sau, ông Phó thống đốc bảo vợ dẫn mình đi thăm ông Tống. Và bây giờ, đến lượt ông Phó thống đốc đi hết từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác: trước mắt ông là một người Á châu mảnh dẻ, xanh xao, nhưng ở ông ta toát lên một điều gì đó khiến cho ông Phó thống đốc vô cùng khâm phục, từ giọng nói tiếng Anh rất chuẩn, tới phong thái bình dị mà không yếu hèn.

Kể từ buổi đó, hai ông bà Phó thống đốc và luật sư Lô-dơ-bi cùng vợ thường xuyên tới thăm ông Tống. Càng ngày, cả bốn người đều quý trọng và coi ông Tống như người thân trong gia đình…

Trở lại “kế hoạch không tưởng” mà Tống Văn Sơ và vợ chồng luật sư Lô-dơ-bi đặt ra. Sau khi đã thống nhất với Tống Văn Sơ, luật sư Lô-dơ-bi liền tìm đến nhà ông Phó thống đốc Xac-thơn và trình bày toàn bộ kế hoạch đó với vợ chồng ông Xac-thơn.

Nữ văn sĩ U-ôn-phơ vỗ tay tán thưởng còn ông Phó thống đốc thì cho đây là “đại diệu kế” và bản thân ông hứa sẽ lãnh nhiệm thuyết phục ông thống đốc tham gia vào “đại diệu kế” này.

Không để phí thời gian, ông Xac-thơn đã tới gặp Thống đốc Pin và dùng hết lời lẽ phác họa chân dung chân chính của ông Tống Văn Sơ, đồng thời, đem danh dự và uy tín của một Phó thống đốc để đảm bảo cho ông Tống trước ông Thống đốc Pin.

Kết quả, ông Thống đốc Pin đã vui lòng cho mượn chiếc ca-nô của riêng mình chuyên dùng vào công vụ của thống đốc.

Cuối tháng 1/1933, có một chiếc tàu thủy cập bến Hương Cảng sau đó sẽ đi Áo Môn- Thượng Hải rồi sang Nhật Bản.

Luật sư Lô-dơ-bi đã mua 2 vé hạng nhất. Vào đêm 30 Tết năm Nhâm Thân, tức hạ tuần tháng 1/1933, chiếc tàu thuỷ đó nhổ neo rời Hương Cảng.

Ông Tống không lên tàu ở bến chính quy để cắt đứt tất cả những “cái đuôi” mật thám tại bến. Trước đó, Thống đốc Hương Cảng đã lệnh cho đội cận vệ lái chiếc ca-nô của riêng mình đến bến Tây Hoàng đón một “vị khách quý” của thống đốc và phải hộ tống vị đó lên con tàu thủy đang chạy, một cách tuyệt đối an toàn.

Đêm đó, tại nhà ông bà Lô-dơ-bi mọi người hầu như không ngủ ngoài cháu bé Pa-tơ-ri-xia. “Chú Tống” đến bên cạnh giường cháu bé, đứng lặng hồi lâu rồi hôn lên trán cháu và nhẹ nhàng quay ra phòng khách. Ông Tống xiết chặt tay ông bà Lô-dơ-bi hai ân nhân đã hết lòng, hết sức vì ông trong lúc lâm nguy; ông bà cũng quyến luyến không muốn rời xa “người em trai” của gia đình.

Cuối cùng, ông Tống trao lại cho ông bà một cuốn nhật ký ghi lại đầu đuôi vụ việc này, và hẹn khi nào trở lại thì sẽ xin được lấy lại. Ông bà nhận cuốn sách và cẩn thận cho vào két sắt. Rồi mọi người cùng ra bến Tây Hoàng, ở đó, chiếc ca-nô của ông thống đốc đang chờ sẵn.

Người ta thấy đi đầu là một người Trung Quốc trang phục hết sức sang trọng, tư thế đĩnh đạc. Đó chính là ông Tống. Bên cạnh là ông bà Lô-dơ-bi, tiếp theo là Long, cũng là một người Trung Quốc, trong vai thư ký riêng của vị “thương gia” giàu có. Sau cùng là một đoàn gia nhân tay xách va ly, đồ đạc.

Mấy bữa qua, bà Lô-dơ-bi đã cho sắm sửa đủ quần áo lễ phục, thường phục, y phục thể thao, mùa đông, mùa hè cho Tống Văn Sơ.

Trước khi xuống ca-nô, vị khách dừng lại chào từ biệt ông bà Lô-dơ-bi và không quên nhờ ông bà chuyển lời cảm ơn tới quan thống đốc Hương Cảng.

Những hoa tiêu và đội cận vệ dưới ca-nô nghe qua những lời đó thầm đoán vị khách này phải tầm cỡ thế nào mới được quan thống đốc trọng vọng đến như vậy.

Xuống ca-nô, vị khách lại chào từ biệt một lần nữa. Chiếc ca-nô cắm cờ lệnh của thống đốc quay mũi nhắm hướng con tàu thủy mới rời bến trước đó.

Vừa chạy, chiếc ca-nô vừa đánh tín hiệu cho chiếc tàu thủy còn đang trên hải phận Hương Cảng kia. Thuyền trưởng trên tàu thủy nhận được tín hiệu thì rất ngạc nhiên và quan sát qua ống nhòm thấy ca-nô treo cờ của quan thống đốc nên đã cho tàu dừng lại.

Chiếc ca-nô áp sát mạn tàu. Đội trưởng cận vệ truyền lệnh của thống đốc, viên thuyền trưởng đứng nghiêm chào và mời “vị khách quý” cùng viên thư ký lên tàu.

Vị khách chào từ biệt hoa tiêu và đội cận vệ và nhờ họ gửi lời cám ơn tới quan thống đốc rồi sau đó, theo sự hướng dẫn của viên thuyền trưởng, vị khách và thư ký ung dung ngồi vào hai ghế hạng nhất, rút thuốc lá ra hút và đọc báo.

Vậy là, sau gần 20 tháng bị giam giữ, lùng sục gắt gao, trải qua bao gian nan hiểm nguy, Tống Văn Sơ đã thoát khỏi âm mưu nham hiểm của kẻ thù bằng một cuộc vượt biển thần kỳ.

 

Sau khi Tống Văn Sơ thoát khỏi Hương Cảng, luật sư Lô-dơ-bi vẫn chưa cảm thấy yên tâm, ông liền nghĩ ra một “diệu kế” là tung tin Tống Văn Sơ tức lãnh tụ An Nam Nguyễn ái Quốc đã chết trong bệnh viện ở Hương Cảng.

Báo chí bắt được tin đó đã nhanh chóng cho đăng tải ngay. Chỉ mấy hôm sau tờ báo của Đảng Cộng sản Liên Xô Pravda cũng đã đăng tin buồn và Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã tổ chức lễ truy điệu đồng chí Nguyễn Ái Quốc tại trường Đại học Xta-lin.

Trong buổi lễ này, có một số chiến sĩ cách mạng của ta đang có mặt tại Mạc-tư-khoa cũng tới dự và khóc thương.

Mấy hôm sau nữa, tờ Nhân đạo, cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp cũng đăng tin đồng chí Nguyễn ái Quốc đã mất tại Hương Cảng và TW ĐCS Pháp cũng làm lễ truy điệu trọng thể người đồng chí đã tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Trong tập hồ sơ của sở mật thám Đông Dương lập về Nguyễn ái Quốc, ở trang cuối cùng họ đã ghi: “Nguyễn ái Quốc đã chết trong nhà tù tại Hương Cảng”.

“Diệu kế” của luật sư Lô-dơ-bi thật hữu hiệu, ngay đến cả tụi mật thám Pháp đã tin vào cái chết của Nguyễn Ái Quốc và thôi truy lùng.

Cho tới hơn chục năm sau, vào đầu năm 1945, một thám tử của thực dân Pháp hoạt động ở Cao Bằng đã dò la được một tin tối quan trọng liền điện ngay về “mẫu quốc” rằng độ này có một người tên là Hồ Chí Minh về đây hoạt động và theo một số tin tức thu thập được cho rằng ông Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc ngày trước.

Thám tử đó yêu cầu Pa-ri cho chỉ thị. Nhận được tin đó, tình báo Pháp tại Pa-ri đã điện trả lời rằng Nguyễn Ái Quốc đã chết tại Hương Cảng khoảng 1931- 1933 rồi, và coi tin kia là vô căn cứ.

Image
Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng gia đình luật sư Lô-dơ-bi tập ảnh ghi lại những hình ảnh kỷ niệm về chuyến thăm Việt Nam. Ngày 2/2/1960 (ảnh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng khai sinh nước Việt Nam – Dân chủ Cộng hòa.

Một số “cáo già” thực dân ở Pháp, khi nhìn ảnh Hồ Chí Minh vẫn bán tín bán nghi. Họ liền đem ảnh cho tên trùm mật thám Đông Dương là Ac-nu (Arnoux) xem.

Ac-nu chính là kẻ lập hồ sơ về Nguyễn Ái Quốc, thuộc lòng về lai lịch và hình dạng Nguyễn Ái Quốc. Vừa thoáng nhìn ảnh Hồ Chí Minh, viên trùm mật thám đó đã thốt lên: - Đây chính là Nguyễn ái Quốc!

Sau khi thoát khỏi Hương Cảng, phần vì bận hoạt động cách mạng, phần vì tránh cho những ân nhân của mình bị chính phủ sở tại làm rầy rà, mãi tới năm 1956, Hồ Chủ tịch mới có dịp nối lại mối quan hệ với “cố nhân”.

Dạo đó có một đoàn nhà báo Anh trong đó có một đảng viên đảng Cộng sản Anh sang thăm nước ta và được Bác Hồ tiếp kiến.

Nhân dịp này, Bác đã nhờ người đảng viên đó gửi tận tay ông bà Lô-dơ-bi một bức thư mời ông bà và con gái sang thăm Việt Nam.

Người đảng viên đó trên đường về đã dừng lại Hương Cảng và trao cho ông bà Lô-dơ-bi bức thư ấy. Kèm theo bức thư, Bác đã gửi tặng ông bà Lô-dơ-bi một bức sơn mài chùa Một Cột và bức ảnh chân dung.
Ông bà đã treo bức chân dung Hồ Chủ tịch ngay trong phòng ngủ của mình. Bốn năm sau, dịp Tết Nguyên đán 1960, ông bà Lô-dơ-bi và con gái mới có điều kiện sang thăm Việt Nam và “vị khách hàng đặc biệt khi xưa”.

Hết.

Theo báo Tiền Phong

Vụ án Hương Cảng - Kỳ 5: Những đoá sen nơi viễn xứ

Details
Vụ án Hương Cảng
12 August 2007
Hits: 3850
Image
Nhà luật sư Lô - dơ - by, nơi Tống Văn Sơ ấn náu 1933. Ảnh tư liệu Bảo tàng HCM.

Còn nhớ, khi đồng ý nhận lời bào chữa cho Tống Văn Sơ, luật sư Lô-dơ-bi đã phải quá tam ba bận tới nhà tù thì nhà chức trách mới cho ông gặp mặt khách hàng của mình.

Chỉ sau lần gặp mặt và trò chuyện ấy, luật sư hết sức cảm phục tinh thần, tài năng, đạo đức và sự lịch duyệt của Tống Văn Sơ.

Về mặt tuổi tác, luật sư Lô-dơ-bi hơn Tống Văn Sơ chừng gần chục tuổi. Tuy nhiên, tất cả những gì toát ra từ Tống Văn Sơ khiến cho luật sư vừa quý trọng, vừa gần gũi, thân thiết rất đáng tin cậy.

Sau buổi tiếp xúc ấy, về tới nhà, luật sư vẫn còn bâng khuâng ngẫm nghĩ về nhà cách mạng Tống Văn Sơ tới mức ông quên cả việc chào vợ như mọi khi, miệng cứ lẩm bẩm thán phục ông Tống.

Thấy lạ, bà vợ sinh nghi liền thắc mắc thì ông thuật lại việc ông vừa vào trại giam gặp mặt một khách hàng mới.
Ông không ngớt lời ngợi ca Tống Văn Sơ. Thấy vậy, bà vợ ngỏ ý cũng rất muốn được tiếp xúc, làm quen với nhân vật đã chiếm được cảm tình đặc biệt của ông chồng luật sư danh tiếng.

Lần gặp tiếp sau, ông luật sư đưa vợ đi theo và để cho bà chuyện trò cùng ông Tống chừng gần hai chục phút. Chỉ với ngần ấy thời gian, bà vợ còn cảm thấy quý trọng và cảm phục ông Tống hơn cả chồng mình.
Về tới nhà, bà thúc giục chồng biện hộ thế nào để chính quyền phải phóng thích ông Tống sớm chừng nào hay chừng ấy. Cho tới phiên toà thứ 9 (12/9/1931) ông Tống bị ốm nặng.

Vợ chồng luật sư Lô-dơ-bi đã tìm mọi cách để ông Tống được vào điều trị trong bệnh viện. Từ khi ông Tống nằm viện, vợ chồng luật sư Lô-dơ-bi càng tận tình chăm sóc ân cần, chu đáo hơn đối với ông Tống như người thân ruột thịt của mình.

Đặc biệt, bà vợ vì có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn chồng, nên đã thường xuyên vào thăm, chăm lo và chuyện trò cùng ông Tống. Mỗi lần vào thăm, bà thường mua hoa quả, bánh kẹo, sách báo, và điều làm cho ông Tống vô cùng cảm động là bao giờ bà vợ luật sư cũng không quên mang đến mấy bông sen-loại hoa mà ông Tống rất ưa thích.

Hương Cảng là một đảo thiếu vắng đầm, hồ, ao cho nên không thể có hoa sen. Tuy nhiên, người ta vẫn có thể đưa hoa sen từ nội địa Quảng Đông tới, bởi vậy, trên đất Hương Cảng, hoa sen rất khan hiếm và đắt đỏ…

Trở lại việc Tống Văn Sơ bị cảnh sát Hương Cảng thông đồng với cảnh sát Tân-gia-ba bắt đưa về nhà tù cũ. Trên đường vào nhà tù, Tống Văn Sơ đã suy nghĩ rất nhiều.

Ông hiểu được rằng, tụi mật thám Hương Cảng cố giữ kín chuyện bắt lại này chỉ chờ dịp có tàu là áp giải mình lên tàu về Đông Dương giao cho Pháp. Chính bởi thế, phải bằng mọi cách liên lạc được với luật sư Lô-dơ-bi càng sớm càng tốt.
Trong số lính gác tại nhà tù hầu như ai cũng có cảm tình với ông Tống, nhưng có một người đã được ông Tống cảm hoá, rất đáng tin cậy. Ông Tống liền viết mấy dòng ngắn ngủi và nhờ người lính gác này trao tận tay cho luật sư Lô-dơ-bi. Người lính gác đó ngay tức khắc chuyển thư tới địa chỉ cần tìm.

Vừa nhận được tin ông Tống bị bắt lại, luật sư Lô-dơ-bi rất bàng hoàng vừa giận, vừa lo: giận vì chính quyền Hương Cảng không giữ đúng lời hứa để ông Tống tự do muốn đi đâu thì đi; lo vì tính mạng ông Tống lần này khó mà bảo toàn.
Phải bằng mọi cách cứu ông Tống ra khỏi nhà tù rồi sẽ liệu tính sau. Trong vai trò luật sư, ông Lô-dơ-bi đã chính thức gặp nhà chức trách, phê phán họ kịch liệt khi chống lại lệnh tuyên án của Cơ mật viện, để cho cảnh sát bắt lại Tống Văn Sơ một cách trái phép.

Chính quyền Hương Cảng lúc đó biết không thể giam giữ Tống Văn Sơ, nên đã phải can thiệp để Sở cảnh sát Hương Cảng thả Tống Văn Sơ sau mấy ngày giam giữ.

Việc đòi tự do cho ông Tống đã thành công, song tính mạng của ông thì vẫn chưa có cách gì đảm bảo, bởi bọn mật thám ở vùng này đa số đã biết mặt Tống Văn Sơ, chúng đều đã được phát ảnh ông Tống để theo dõi, nay nếu để ông Tống đi lại ngoài phố, chắc chắn, bọn mật thám sẽ không tha và khi cần, bọn chúng sẵn sàng thủ tiêu ông Tống để lĩnh món phần thưởng 15 ngàn đô-la mà Toàn quyền Đông Dương đã treo thưởng.

Sau một thời gian bàn tính, ông bà Lô-dơ-bi quyết định giấu ông Tống vào ký túc xá Thanh niên Thiên chúa giáo Trung Hoa (Chinese Young Men Christian Association, viết tắt là CYMCA) tại Hương Cảng. Ký túc xá này dành riêng cho những người Trung Quốc theo đạo Thiên chúa giáo, là giáo sư, sinh viên, công chức.

Khu vực này là của Nhà Chung, cảnh sát Hương Cảng không được quyền vào. Nhờ mối quan hệ của mình, ông bà Lô-dơ-bi đã thu xếp cho ông Tống được ở riêng một phòng kín đáo; hàng ngày không được ra ngoài để tránh con mắt rình mò của mật thám.

Việc cơm nước, sinh hoạt hoàn toàn do bà Lô-dơ-bi lo chu tất. Được một thời gian, tuy chưa bị lộ, nhưng ông bà Lô-dơ-bi vẫn chưa yên tâm vì linh tính mách bảo nếu để ông Tống ở trong ký túc xá kia lâu, chắc chắn không chóng thì chầy, bọn mật thám sẽ đánh hơi thấy.

Bởi vậy, cả hai ông bà cùng suy tính rất nhiều phương án, và cuối cùng đã chọn phương án bất ngờ nhất: “Nơi chân đèn là nơi tối nhất”. Theo hướng dẫn của bà Lô-dơ-bi, ông Tống tự lấy dây đo kích thước chiều cao, vòng bụng vòng ngực.
Sau đó, giao cho ông Long, một người Trung Quốc rất đáng tin cậy, đang làm chủ sự (chánh văn phòng) văn phòng của luật sư Lô-dơ-bi, đi chọn mua một bộ quần áo gồm một áo dài, tay rộng, cổ đứng, cài nách và một chiếc quần.
Bà Lô-dơ-bi gói vuông vắn phẳng phiu vào một tờ báo rồi trao cho một em bé bán báo bí mật đưa vào cho ông Tống, kèm theo là mẩu giấy viết mấy dòng dặn đến 5 giờ rưỡi chiều hôm đó, mặc bộ quần áo này ra cổng đi đến chỗ bãi đất có một chiếc ô tô đợi sẵn, lên xe.

Đúng giờ hẹn, ông Tống trịnh trọng trong y phục “giáo sư” với bộ ria mới để làm tăng vẻ đạo mạo của nhà trí thức. Trên sân lúc này các giáo sư, sinh viên đang đứng chơi đông đảo.

Ông Tống điềm tĩnh, lịch sự chào hỏi các giáo sư cũ. Các vị này tưởng là “giáo sư mới” nên cũng chào lại ông Tống một cách lễ độ. Các sinh viên thấy vậy cũng cung kính chào “giáo sư” Tống.

Ông Tống khoan thai bước ra cổng và đi tới đúng điểm hẹn thì quả nhiên đã có một chiếc xe ô tô sang trọng đỗ ở đó. Bên cạnh xe ô tô có một người châu Âu, đứng tuổi, đang cầm một quyển sổ và cây bút tính toán gì đó. Khi thấy ông Tống lại gần, người đó bèn gọi to: - Này ông thầu khoán, ông lại đây tôi bàn việc xây ngôi nhà trên mảnh đất này.

Ông Tống nhập vai rất nhanh, lại gần và sánh vai cùng ông kiến trúc sư vừa đi vừa bàn bạc công việc xây dựng. Sau khi quan sát không có dấu hiệu gì khả nghi, “kiến trúc sư” mới ra hiệu cho ông “thầu khoán” lên xe.

Chiếc xe chạy vòng vèo hết phố nọ sang phố kia, khi đã chắc chắn không có “cái đuôi” nào, “kiến trúc sư” liền cho xe chạy thẳng về nhà mình. Vị kiến trúc sư đó chính là luật sư Lô-dơ-bi.

Bọn mật thám đã không thể ngờ được rằng, người mà chúng ngày đêm theo dõi, đang hiện diện giữa trung tâm Hương Cảng, sờ sờ ngay trước mắt mà chúng không mảy may hay biết.

Ông bà Lô-dơ-bi cho gọi bồi bếp và những người giúp việc trong gia đình lên và dặn dò kỹ lưỡng là gia đình mời một quý khách là người Trung Quốc tới chơi và ở lại nhà một thời gian, ai nấy đều phải phục vụ chu tất, tuyệt đối không được để lộ cho người ngoài hay. Mọi người đều răm rắp tuân theo.

Từ đó, ông Tống ở hẳn tại nhà ông bà Lô-dơ-bi. Hàng ngày, ông dậy sớm tập thể thao, đọc sách báo, dạy học cho con gái ông bà Lô-dơ-bi tên là Pa-tơ-ri-xi-a, lúc đó khoảng 5-6 tuổi.

Dạy học xong, ông Tống thường kể chuyện cổ tích cho Pa-tơ-ri-xi-a nghe. Cô bé đặc biệt yêu quý chú Tống, suốt ngày quanh quẩn, quấn quít bên chú...

Bọn mật thám vẫn lùng sục gắt gao. Để bảo toàn cho tính mạng ông Tống, ông bà Lô-dơ-bi đã phải di chuyển chỗ ở cho ông Tống tới 3-4 lần mà vẫn chưa an tâm.

Cuối cùng, để tránh tai họa có thể xảy ra bất cứ lúc nào, vợ chồng ông bà Lô-dơ-bi cùng bàn tính với ông Tống một kế hoạch rời khỏi Hương Cảng một cách “bất ngờ” nhất và “an toàn” nhất.

Muốn vậy, chỉ còn một cách duy nhất là ông Tống rời Hương Cảng với tư cách là “vị khách quý” của thống đốc Hương Cảng và phải được đảm bảo bởi chính ông thống đốc mà trước đó không lâu hạ bút ký lệnh trục xuất ông Tống, giao cho chính quyền Đông Dương! Liệu “kế hoạch không tưởng” này có thể thực hiện?

Còn tiếp...

Theo báo Tiền Phong

Vụ án Hương Cảng - Kỳ 4: Châu chấu đá voi

Details
Vụ án Hương Cảng
09 August 2007
Hits: 4150
Image
Sở cảnh sát Hương Cảng 1931, nơi giam giữ, thẩm vấn Tống Văn Sơ

Trong nguyên văn bản thảo của tác giả Lê Tư Lành, tiếp theo các chương đã đăng là các chương nêu lên cuộc “đấu trí” vô cùng cam go của các luật sư và Tống Văn Sơ đối với các thủ đoạn nham hiểm, tinh vi, thậm chí trắng trợn của chính quyền thực dân Anh – Pháp trong việc hãm hại lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đó là các chương “Bắt trái phép, giam trái phép”, “Hỏi cung sai thủ tục, làm giả tờ cung khai”, “Trục xuất là trái phép”.

Vì có quá nhiều sự kiện, chi tiết đan xen, nên chúng tôi mạn phép tóm lược lại thành một chương nhan đề là “Châu chấu đá voi” để bạn đọc tiện theo dõi.

Như đã biết, trước khi phiên tòa diễn ra, toàn quyền Đông Dương đã phái một viên thanh tra sang tận Hương Cảng “bày mưu tính kế” với mật thám Anh tại Hương Cảng bằng mọi cách phải dẫn giải Tống Văn Sơ về Việt Nam để hành hình. Cảnh sát Anh cũng đều gần như thuộc lòng “lý lịch” của Tống Văn Sơ.

Chúng biết rất rõ Tống Văn Sơ là Nguyễn ái Quốc, một lãnh tụ cộng sản, từng sang Liên Xô học, thậm chí, chúng còn nắm rõ Nguyễn Ái Quốc đã từng tham gia bao nhiêu Hội nghị Quốc tế cộng sản, phát biểu ra sao, và nắm trong tay cả ảnh của Nguyễn Ái Quốc. Mục đích cuối cùng của Tòa án Hương Cảng là buộc Tống Văn Sơ phải thừa nhận mình là Nguyễn ái Quốc và là cộng sản, từ đó chiểu theo luật pháp Anh quốc tại Hương Cảng trục xuất Tống Văn Sơ về Việt Nam giao cho chính quyền thực dân Pháp, trừ khử một “lãnh tụ cộng sản cực kỳ nguy hiểm”.

Chính bởi thế, ngay trong phiên tòa lần thứ nhất (31/7/1931), quan tòa đã buộc tội “Tống Văn Sơ, tức Nguyễn Ái Quốc là tay sai của Liên Xô, phái viên của Đệ tam Quốc tế cộng sản đến Hương Cảng để phá hoại chính quyền ở đây và vì lẽ đó sẽ bị trục xuất khỏi Hương Cảng vào ngày 18/8/1931, do chiếc tàu thủy An-gi-ê (Algiers) của Pháp chở về Đông Dương”!

Thực tế có rất nhiều tài liệu, bằng chứng để Tòa án Hương Cảng “kết tội” Tống Văn Sơ. Song, với tài năng xuất chúng, các luật sư đã không sa đà vào các tài liệu, chứng cứ – cạm bẫy do Tòa án Hương Cảng giăng ra, mà các vị luật sư đã vô cùng khôn khéo áp dụng nghiệp vụ đúng luật pháp Anh quốc để lật ngược thế cờ, dồn chính quyền Hương Cảng từ thế “quan tòa” trở thành “bị cáo” với những hành vi vi phạm pháp luật (Anh quốc) một cách nghiêm trọng!

Việc đầu tiên, các luật sư vạch trần việc bắt người trái phép của chính quyền Hương Cảng. Bị lên án như vậy, đại diện chính quyền trong phiên tòa đành phải công nhận việc bắt Tống Văn Sơ không có giấy phép là bất hợp pháp nhưng để sửa sai, 5 ngày sau, 11/6 chính quyền đã ký lệnh bắt ông Tống và ngày 12/6 thì bắt chính thức và giam ông Tống vào ngục Vic-to-ri-a. Tòa án coi như lệnh bắt giam này là lệnh bắt giam lần thứ nhất.

Ngay lập tức luật sư lên tiếng: Thưa các ngài, thế nào là bắt người? Và ông tự trả lời: Bắt người là đưa một người ở trạng thái tự do vào trạng thái mất tự do. Ngày 6/6, ông Tống đã bị bắt trái phép và bị giam ở Sở cảnh sát cho đến ngày 12/6 ông Tống vẫn còn đang bị giam giữ nghĩa là vẫn đang ở trong trạng thái mất tự do.

Theo pháp luật thì chính quyền chỉ có thể bắt một người đang ở trạng thái tự do để đưa vào trạng thái mất tự do. Nay, trong trường hợp này, ông Tống vốn đã bị mất tự do từ ngày 6/6, vậy mà ngày 12/6, chính quyền lại ký lệnh bắt ông thì thật là một việc tối phi lý. Người ta không thể nào lại đi bắt một người đã bị bắt và hiện đang bị giam giữ.

Lúc này, đại diện chính quyền và quan tòa thực sự đuối lý và buộc lòng phải đồng ý với luật sư. Song, quan tòa cũng chẳng phải vừa. Họ nghĩ ngay ra một “kế” để đập lại luận điểm của luật sư. Cuối phiên tòa thứ nhất, họ tuyên bố trả tự do cho Tống Văn Sơ.

Các luật sư và “bị cáo” thực sự ngỡ ngàng tưởng như nghe lầm. Nhưng không, đúng như thế. Quan tòa còn đưa cho Tống Văn Sơ đầy đủ giấy tờ được thả. Thế nhưng, khi Tống Văn Sơ vừa mặc thường phục cầm theo giấy tờ được thả, vừa ra khỏi nhà tù một đoạn đường thì bỗng có một tên cảnh sát tiến đến, đưa ra trước mặt ông Tống một giấy phép bắt người và nói giọng rất trịnh trọng:

- Thưa ông, hiện giờ ông đang ở trạng thái tự do, chính quyền có lệnh bắt ông, mong ông vui lòng hợp tác!


Dứt lời, viên cảnh sát dẫn ông Tống trở lại nhà tù. Sau đó, chính quyền Hương Cảng cho tiếp tục tiến hành cuộc xử án. Tại phiên tòa liền sau đó, luật sư đã chính thức công nhận giữa tòa rằng chính quyền bắt lần này là hợp với thủ tục pháp lý.

Quan tòa chưa kịp hí hửng thì luật sư đã tiếp lời: Thưa tòa, thưa ngài đại diện chính quyền, chúng tôi không đề cập đến việc bắt Tống Văn Sơ nữa mà xin nhấn mạnh rằng, suốt thời gian qua, khách hàng của chúng tôi đã bị giam giữ một cách trái pháp luật.

Theo luật pháp Anh quốc hiện tại, nhà chức trách có thể giam bị cáo trong vòng 14 ngày kể từ khi bị bắt. Trong thời gian này, nhà chức trách phải tiến hành hỏi cung và lập hồ sơ. Nếu trong 14 ngày đó việc lập hồ sơ chưa làm xong, nhà chức trách có thể ký lệnh giam thêm 7 ngày nữa, sau đó, chính quyền nhất thiết phải đưa bị cáo ra tòa xét xử không thể giam thêm một ngày nào nữa.

Đối chiếu với trường hợp bị cáo Tống Văn Sơ, lẽ ra, hạn cuối cùng là ngày 2/7 chính quyền phải đưa bị cáo ra tòa hoặc phải trả tự do. Vậy mà thực tế, ông Tống không những không được trả tự do mà lại bị chính quyền giam giữ thêm bằng một lệnh bắt giam mới. Như vậy kể từ ngày 2/7 đến khi phiên tòa thứ nhất (31/7) mở thì ông Tống đã bị giam trái phép đúng 30 ngày, chưa kể thời gian bị giam trái phép từ ngày 6/6 đến khi có lệnh bắt chính thức!

Trước lập luận rõ ràng, khúc triết của luật sư, vị đại diện chính quyền Hương Cảng đành phải thở dài mà tìm cách chối quanh: Tôi không muốn công nhận điều gì khi chưa có chỉ thị. Ngài cứ truy ép tôi (ý nói luật sư - PV) như trước đây tôi cũng đã thường bị truy ép bắt phải công nhận đủ mọi thứ…

Dường như cảm thấy quá đuối lý, quan tòa liền xoay chuyển tình hình bằng cách cho rằng việc bắt, giam Tống Văn Sơ chỉ là sai sót về thủ tục pháp lý, còn bản thân Tống Văn Sơ trong lời cung khai đã tự nhận mình là Nguyễn ái Quốc, tức là lãnh tụ cộng sản An Nam.

Bằng chứng là bản cung khai do một người Anh lão luyện, đầy kinh nghiệm tố tụng là William Thomson, Phó Bí thư Hoa vụ hỏi cung Tống Văn Sơ ngày 14/7/1931. ở dưới bản cung có ký tên tuyên thệ của W.Thomson. Chánh án đã trưng ra trước tòa bản cung khai này, nguyên văn:

“ – Hỏi: (bằng tiếng Anh) Tên là gì?

- Đáp: Tống Văn Sơ (tên khác là Lý Thụy, tên khác nữa là Nguyễn Ái Quốc).

- Hỏi: Bao nhiêu tuổi?

- Đáp: Ba mươi sáu tuổi.

- Hỏi: Sinh quán ở đâu?

- Đáp: ở thị trấn Đông Hưng.

Rõ ràng, theo bản cung trên thì Tống Văn Sơ đã tự nhận mình là Lý Thụy, Nguyễn ái Quốc – mục đích cuối cùng của thực dân Pháp – Anh.

Ngay lập tức, luật sư đã vạch trần chi tiết những sai phạm trong việc hỏi cung và nghiêm trọng hơn, chính quyền đã làm giả bản hỏi cung. Cụ thể, trước tiên, đối chiếu với luật pháp Anh quốc lúc đó, nhà chức trách sau khi bắt một người nào đó phải tiến hành hỏi cung ngay sau 24 giờ, nếu sau ngày bắt là ngày Chủ nhật hoặc ngày lễ, thì việc hỏi cung phải được bắt đầu ngay sau ngày Chủ nhật hay ngày lễ đó.

Nhân viên hỏi cung chỉ được quyền hỏi 7 câu hỏi in sẵn trên một tờ giấy, tuyệt đối không được hỏi ra ngoài phạm vi 7 câu hỏi gồm: Tên, tuổi, sinh quán, nghề nghiệp, thời gian cư trú, quan hệ xã hội, người và vật làm chứng. Nếu lời khai chưa rõ, người hỏi cung có thể đặt thêm một số câu hỏi nhưng tuyệt nhiên phải nằm trong nội dung 7 câu hỏi trên.

Luật sư vạch rõ rằng, trong trường hợp hỏi cung Tống Văn Sơ, nhà chức trách đã vi phạm về thời gian, nội dung và cuối cùng là thay bằng một bản cung giả. Cụ thể, cho mãi tới ngày 14/7, tức là 1 tháng 8 ngày, chính quyền mới tiến hành hỏi cung Tống Văn Sơ và lại đặt quá nhiều câu hỏi không nằm trong phạm vi 7 câu hỏi như luật pháp Anh quốc quy định.

Song điều quan trọng nhất là chính quyền đã đưa ra một bản cung giả trong đó gán ghép cho Tống Văn Sơ tự nhận mình là Lý Thụy, Nguyễn ái Quốc. Bằng chứng là lá đơn tố cáo của Tống Văn Sơ nêu rõ rằng, bản cung mà ông Tống khai là do ông viết trực tiếp khi trả lời, còn bản cung giả thì lại được đánh máy lại và ghi thêm là ông Tống đã nhận rồi.

Đến đây, xin nói thêm rằng, ngoài sự biện hộ tài tình của luật sư, bản thân Tống Văn Sơ cũng đã vô cùng sắc sảo, khéo léo trong việc “hòa âm” cùng luật sư để đối phó với mật thám, quan tòa. Như chúng ta đã biết, sau này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh cũng đã rất nhiều lần vượt qua những tình huống “ngàn cân treo sợi tóc” bằng sự bình tĩnh, nhanh trí và thông minh tới mức tuyệt diệu. Chuyện kể rằng, đúng vào lúc ông Tống đang bị giam trong nhà tù Vic-to-ri-a, bọn mật thám thì đang tìm mọi cách để buộc ông Tống phải tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc. Một hôm, có một “nhà báo” An Nam, bút danh là Văn Leo vào thăm ông Tống. Vừa mới tới, ông ta đã chào to bằng tiếng Việt: Xin chào ông Nguyễn ái Quốc!”. Ông Tống lúc đó vẫn ngồi yên, giữ thái độ thản nhiên, tỏ ra không hiểu tiếng Việt. Vị “Nhà báo” liền chuyển sang nói bằng tiếng Anh, lúc đó, ông Tống mới bắt chuyện. Cuối cùng, Văn Leo nói bằng tiếng Anh rằng: “Cứ tưởng ông là Nguyễn Ái Quốc, nay thấy ông không nói được tiếng Việt, vậy ông không phải là Nguyễn Ái Quốc nhỉ?”. Lại một chuyện khác. Ngày 14/7/1931, trước khi bước vào hỏi cung, W.Thomson làm ra vẻ vồn vã như đã từng quen nhau từ trước, cười cười, nói nói và gọi ngay ông Tống là “Nguyễn ái Quốc”, rồi sau đó, W.Thomson liền nói hết tên thật và bí danh mà ông Tống hay dùng, nơi sinh, năm sinh, các nơi đã đi qua, quá trình hoạt động, kể cả việc ông Tống dự mấy Đại hội Quốc tế cộng sản…

Sau suốt mấy giờ đồng hồ dùng đủ mọi biện pháp, “ngón nghề” để buộc Tống Văn Sơ phải tự nhận là Nguyễn Ái Quốc mà không đạt được ý định, “con cáo già” W.Thomson bèn quyết định tung ra “đòn độc”: Ông ta đặt ra trước mặt Tống Văn Sơ một tấm hình chụp nhà cách mạng Nguyễn ái Quốc đầu đội mũ dạ cứng hình quả dưa, dưới ảnh có đề Đồng chí Nguyễn Ái Quốc bằng chữ in. W.Thomson chắc mẩm rằng, lần này, ông Tống hết đường chối cãi. Tống Văn Sơ cầm bức ảnh lên ngắm nghía một thoáng rồi trả lời: “Tôi thấy cái ảnh này trông giống tôi!” Rồi ông Tống lại nói thêm:

- Và có thể là tôi!

Nghe được câu đó, W.Thomson mừng rỡ như bắt được vàng, chưa kịp nói câu gì thì Tống Văn Sơ lại thản nhiên nói tiếp:

- Nhưng chưa bao giờ tôi đội cái mũ này!

Kẻ hỏi cung ớ miệng, không nói được câu gì, chỉ còn cách giơ hai tay lên đầu, mặt nhăn nhó tựa như chó cắn phải mướp nóng!

Mặc dù bất lực và đuối lý hoàn toàn trước lý lẽ sắc bén, đúng “pháp luật” của luật sư và bị cáo, ngay tại phiên tòa thứ hai, vị chưởng lý vẫn tuyên bố xanh rờn: “Ngày 12/8/1931, Thống đốc Hương Cảng đã ký lệnh trục xuất Tống Văn Sơ, kèm theo lệnh bắt phải xuống tàu thủy của Pháp để về Đông Dương vào ngày 18/8/1931

Tính mạng của Tống Văn Sơ như “ngàn cân treo sợi tóc”.

Quả vậy, ngay trong phiên xử thứ 2 (ngày 15/8/1931), viên chưởng lý đã tuyên bố ngày 12 tháng 8/1931, thống đốc Hương Cảng đã ký lệnh trục xuất Tống Văn Sơ về Đông Dương vào ngày 18/8/1931, tức 3 ngày sau đó.Tình hình đã trở nên hết sức nguy hiểm cho tính mạng của Tống Văn Sơ - Nguyễn Ái Quốc. Các luật sư đã ý thức rõ được điều đó nên đã đấu tranh một cách rất mạnh mẽ, tiếp đó, tùy diễn biến tình hình, lúc thì cương quyết, lúc uyển chuyển sao cho có thể vô hiệu hóa được lệnh trục xuất kia.

Trước hết, luật sư đã vạch trần âm mưu và sự cấu kết chặt chẽ của hai chính quyền Pháp - Anh, bằng cách đưa ra các bức điện mật của Toàn quyền Đông Dương với chính quyền Hương Cảng. Sau đó, luật sư nhấn mạnh: Việc chính quyền Hương Cảng ký lệnh trục xuất ông Tống và công bố lệnh đó ngay trong khi tòa án đang xét xử chưa xong là một vi phạm luật pháp nghiêm trọng.

Trong trường hợp này, tòa án đang họp, chưa có kết luận bị cáo phạm tội gì, đáng chịu hình phạt gì mà thống đốc đã ra lệnh trục xuất là không đúng pháp chế Anh quốc. Những luận điểm của luật sư tuy làm phật lòng chưởng lý, nhưng ông ta vẫn phải hứa rằng: Tôi cố gắng đảm bảo rằng, cho đến khi phiên tòa này (15/8) công bố việc phán xét, bị can vẫn sẽ còn có mặt tại đây!

Tại đây, có nghĩa là chưa bị trục xuất. Đó là thắng lợi bước đầu của Tống Văn Sơ và các luật sư. Phiên toà hôm đó (15/8) họp tới 6 giờ chiều vẫn chưa xong. Đây là ý định của các luật sư cố tình kéo dài thời gian cho qua ngày 18/8. Cuối cùng, toà phải họp phiên thứ 3 vào ngày 17/8, nghĩa là một ngày trước khi lệnh trục xuất của thống đốc Hồng Kông có hiệu lực.

Bước vào phiên xử thứ 3, các luật sư đưa ra nhiều lý lẽ nhằm kéo dài phiên xử cho hết buổi chiều ngày 17/8 để tòa không kết thúc được, cũng có nghĩa là sáng hôm sau, không thể trục xuất được Tống Văn Sơ. Các luật sư đã thành công trong việc dồn viên chưởng lý phải hứa trước tòa rằng:

- Nếu tòa chưa giải quyết xong trong ngày hôm nay (17/8) thì sẽ có biện pháp thay bằng một chiếc tàu khác chạy cùng đường sang Đông Dương là tàu Tướng Mét - dinh - gơ (Metjinger), nó sẽ rời Hương Cảng ngày 1/9/1931.

Đã là một bước thắng lợi lớn. Không dừng ở đó, luật sư đấu tranh phải ghi rõ việc đó như sau:

“Nếu việc xét xử không xong trong ngày hôm nay (thứ 2 ngày 17/8), dù kết quả thế nào chăng nữa, Tống Văn Sơ sẽ không bị trục xuất trước khi tàu nhổ neo ngày 1/9 hay vào khoảng thời gian đó”.

Tuy nhiên, như đã biết, chính quyền Hương Cảng đã quyết chí bằng mọi cách phải trục xuất được Tống Văn Sơ về Đông Dương giao cho Pháp, cho nên, ngay trong buổi chiều 17/8, khi phiên tòa đang xét xử, thống đốc Hương Cảng biết rằng lệnh trục xuất thứ nhất do ông ấy ký sẽ không thể thực hiện kịp nên ông thống đốc đã cho ban hành ngay chiều hôm đó lệnh trục xuất thứ 2 buộc Tống Văn Sơ phải xuống tàu Mét - dinh - gơ vào ngày 1/9/1931 về Đông Dương.

Với sự nhanh trí, thông minh tuyệt vời, các luật sư đã vạch rõ tính bất hợp pháp và phi lý của lệnh trục xuất số 2 này. Thứ nhất, các luật sư phân tích rằng, về mặt pháp lý, không thể có hai lệnh trong cùng một thời gian đối với cùng một con người, về cùng một việc.

Image
Báo L’Humanité (Nhân đạo) của Đảng Cộng sản Pháp, ra ngày 19/6/1931 đăng tin về việc nhà cầm quyền Anh bắt nhà cách mạng An Nam Nguyễn Ái Quốc (ở đây, báo L’Humanité có sự nhầm lẫn là bắt Nguyễn Ái Quốc tại Thượng Hải)

Lệnh trục xuất thứ hai chỉ được ban hành khi tòa án tuyên bố hủy lệnh thứ nhất. Sau đó Luật sư tiếp lời: Tôi xin khẳng định luôn rằng kể cả lệnh thứ 2 này của thống đốc Hương Cảng cũng không thể ban hành.
Vì sao ư? Vì theo như ông chưởng lý tuyên bố, lệnh thứ 2 này được thống đốc ký vào chiều ngày 15/8 và ban hành vào chiều 17/8. Các vị ở đây ai cũng biết chiều 15/8 là chiều thứ Bảy. Theo quy định tại Anh quốc và thuộc địa thì chế độ làm việc của các cơ quan công quyền được nghỉ vào chiếu thứ Bảy và Chủ nhật liền kề.

Tôi xin đảm bảo với các vị là người ta sẽ hoàn toàn mất công mà không tìm được dấu vết gì chứng tỏ Hội đồng hành chính họp chiều thứ Bảy ngày 15/8, và nếu có định họp về khuya đi nữa thì chắc chắn không đủ quorum (nguyên gốc tiếng Latin, thuật ngữ chỉ số thành viên cần thiết tham gia họp, biểu quyết).

Mặc dù biết rõ sự thật đúng như phân tích của luật sư, nhưng viên chưởng lý vẫn ngoan cố khăng khăng rằng Hội đồng hành chính có họp vào chiều 15/8 và quyết định, còn ông thống đốc chỉ việc ký vào lệnh trục xuất thứ 2 thôi.

Đến lúc này, luật sư thấy cần phải lột mặt nạ những kẻ gian dối: Vậy thì yêu cầu tòa cho mời ông thống đốc và các thành viên Hội đồng hành chính ra trước tòa để đối chất với luật sư, đồng thời phải công khai luôn biên bản cuộc họp hôm đó ghi ý kiến của từng người về việc trục xuất Tống Văn Sơ.

“Ngón đòn” này của luật sư Lô - dơ - bi và đồng nghiệp tỏ ra hiệu quả vô cùng vì đã dồn toà án và chính quyền vào nguy cơ bị lấm lưng, bởi lẽ thứ nhất, thực tế, không có cuộc họp nào của Hội đồng hành chính vào chiều thứ Bảy ngày 15/8 cả nên lấy đâu ra “biên bản” trình toà. Hơn nữa, thống đốc và các thành viên HĐHC mà phải ra toà “hầu kiện” thì bẽ bàng lắm lắm.

Lúc này, vị chánh án như gà mắc tóc. Rõ ràng tòa không thể bác bỏ yêu cầu hợp pháp của luật sư, song cũng không có lý gì bác bỏ yêu cầu đó. Cuối cùng thì vị chánh án cũng nghĩ ra được một “diệu kế” làm cho luật sư cũng vừa lòng, mà chính quyền thì đỡ bẽ mặt, ông ta tuyên bố toà “tạm nghỉ”, sau đó, mời luật sư và chưởng lý vào phòng trong để thương lượng.

Sau một hồi “đàm phán”, tòa án và viên chưởng lý đồng ý đảm bảo Tống Văn Sơ sẽ không bị trục xuất về Đông Dương vào ngày 1/9. Đây là một thắng lợi rực rỡ vì các luật sư và Tống Văn Sơ trước mắt chắc chắn sẽ có một khoảng thời gian trên dưới 10 ngày để chuẩn bị cho các bước tiếp theo.

Sau khi đã hạ “knock - out” đối thủ, trở lại phiên tòa, luật sư “khiêm nhường” nói rằng xin rút yêu cầu đòi thống đốc và các thành viên HĐHC.

Những âm mưu thâm độc của thực dân Pháp - Anh bước đầu đã bị các luật sư vạch trần, song chính quyền Pháp và Hương Cảng vẫn giữ chặt hai lý do để trục xuất Tống Văn Sơ.

Thật vậy, trong các phiên tòa tiếp theo, viên chưởng lý cho rằng có hai lý do để trục xuất Tống Văn Sơ:

1. Tống Văn Sơ chính là Lý Thuỵ, Nguyễn Ái Quốc, một người cộng sản, tay sai của Liên Xô, phái viên của quốc tế cộng sản, sang hoạt động tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản, làm nguy hại cho nền an ninh Hương Cảng.

2. Nguyễn Ái Quốc bị nhà cầm quyền ở Đông Dương kết án tử hình vắng mặt năm 1929 hiện đang bị chính quyền Đông Dương truy nã, chính quyền Đông Dương nhờ chính quyền Hương Cảng bắt hộ để đưa về Đông Dương.

Luật sư biện hộ rằng: Phải khẳng định rằng không có một tài liệu, cơ sở vững chắc nào để kết luận Tống Văn Sơ là Nguyễn Ái Quốc, một người cộng sản. Cũng không có bằng chứng nào chứng minh Tống Văn Sơ là tay sai của Liên Xô cũng như phái viên của quốc tế cộng sản.

Thời gian cư ngụ tại Hương Cảng, Tống Văn Sơ không hề vi phạm bất kỳ điều gì đối với quy định của pháp luật Anh quốc. Ngay khi khám xét, lục soát tại số nhà 186 đường Tam Lung nơi Tống Văn Sơ bị bắt giữ, cảnh sát cũng không hề thu được bất kỳ một tài liệu có liên quan đến cộng sản hay phản loạn gây nguy hại cho anh ninh Hương Cảng.

Về lý do thứ hai, sau khi nêu lên tất cả những đạo luật của Anh quốc về quyền trục xuất ban hành từ thế kỷ XIX cho tới thời gian đó, luật sư khẳng định rằng Tống Văn Sơ không thuộc bất kỳ đối tượng nào thuộc diện phải bị trục xuất.

Để minh chứng, luật sư phân tích tiếp: Trên thực tế, cho tới đầu thế kỷ XX này, không hề có một vụ trục xuất nào cả, kể cả vụ án lớn xảy ra năm 1858 khi vua nước Pháp sang thăm nước Anh bị mưu sát. Chính quyền Pháp lúc đó cũng đã yêu cầu chính quyền Anh trao cho họ một trong những can phạm vào vụ mưu sát này.
Song, Ngoại trưởng Anh lúc bấy giờ là Cla - ran - đơn (Clarandon) đã từ chối và nói rằng “hoàn toàn không có một lý do nào buộc Nghị viện Anh thông qua Luật trao trả phạm nhân cho nước ngoài về một vụ án chính trị”.

Đến năm 1905, Nghị viện Anh đặt lại vấn đề trục xuất ngoại kiều, nhưng cấm không được trục xuất ngoại kiều nào về tội chính trị. Đầu năm 1914, ngay hôm sau khi tuyên bố tham gia chiến tranh thế giới thứ nhất, Nghị viện Anh đã thông qua đạo luật cho phép chính quyền có thể giao chính trị phạm đang lánh nạn ở nước Anh hay thuộc địa cho nước khác. Nhưng đạo luật này chỉ có giá trị thi hành trong thời gian nước Anh có chiến tranh.

Khi hết chiến tranh, đương nhiên đạo luật ấy tự nó không còn hiệu lực. Kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ I, nước Anh lại vẫn thi hành những đạo luật như trước cho đến bây giờ. Chính bởi thế, không tồn tại bất cứ lý do nào để trục xuất Tống Văn Sơ.

Những viện dẫn và lập luận của luật sư là hết sức chặt chẽ, đúng luật pháp Anh quốc, tuy nhiên, tại phiên tòa cuối cùng, phiên thứ 9 họp vào ngày 12/9/1931, vị chánh án đã tuyên bố thừa nhận 4 điểm:

1. Việc bắt là trái phép

2. Việc giam là trái phép.

3. Việc hỏi cung không đúng thủ tục.

4. Chính quyền đã làm giả mạo tờ cung.

Song điều quan trọng nhất là việc trục xuất thì vị chánh tòa tuyên bố: Việc chính quyền Hương Cảng trục xuất Tống Văn Sơ là hợp pháp!

Đây rõ ràng là kiểu “cả vú lấp miệng em”!
Sinh mạng của Tống Văn Sơ còn đang treo lơ lửng, chưa biết sẽ ra sao.

 

Còn tiếp...

Theo báo Tiền Phong

Vụ án Hương Cảng - Kỳ 3: Toà án và luật sư

Details
Vụ án Hương Cảng
08 August 2007
Hits: 5320
Image
Đường phố Hương Cảng 1931

Trước khi trình bày những diễn biến của phiên tòa, xin được giới thiệu sơ qua cách tổ chức Tòa án ở Hương Cảng và lòng nhiệt thành cùng tài năng của các vị luật sư tham gia bào chữa cho Tống Văn Sơ.

Tòa án này là Tòa án địa phương (Local court), tức Tòa án Hương Cảng của Anh quốc. Trong phòng xử án, trên cao là bàn của chánh án và phó chánh án.
Phía trước, một bên là bàn của các ủy viên công tố- đại diện cho chính quyền buộc tội bị cáo; phía đối diện là bàn các luật sư biện hộ cho bị cáo. Xa xa, trước mặt quan tòa là vành móng ngựa cho bị cáo.

Vành móng ngựa thấp hơn bàn của ủy viên công tố, nhưng cao hơn bàn của luật sư. Hai bên phải trái thì dành cho đại diện các báo xuất bản bằng tiếng Anh. (Những báo viết bằng tiếng Trung Quốc không được phép dự). ở giữa phòng là chỗ dành cho quần chúng tới tham dự phiên tòa.

Việc bảo vệ rất cẩn mật. Quanh phòng đều có chấn song sắt; các cửa ra vào đều có lính người Anh canh gác, vòng ngoài có lính người ấn Độ bố phòng (vì ấn Độ lúc đó vẫn còn là thuộc địa của Anh nên người ấn phải đi lính cho chính quyền đô hộ).

Image
Luật sư Lô - dơ - by

Trong các phiên tòa, quan chức, nhân viên của Tòa án lại nhiều hơn quần chúng tới dự. Có thể nói về phía quần chúng thì thực sự không có ai tới dự vì thân nhân của bị cáo (Tống Văn Sơ) không có ai, còn bạn bè, đồng chí trong tổ chức cách mạng thì chẳng ai dại gì mà đến ngồi trước Tòa cho bọn mật thám nhận diện.

Theo thủ tục của Tòa án Hương Cảng bấy giờ, trong các phiên tòa này, chỉ có 4 người được quyền phát biểu ý kiến: Chánh án, phó chánh án, ủy viên công tố và luật sư biện hộ.

Còn bị cáo chính là người cần được phát biểu nhất cũng không có quyền nói. Nếu muốn có ý kiến, bị cáo phải ghi ý kiến của mình vào một tờ giấy nhỏ đưa cho luật sư, và luật sư căn cứ vào giấy đó mà phát biểu thay cho bị cáo.

Ngay cả luật sư Lô-dơ-bi là trưởng đoàn luật sư biện hộ trong vụ này muốn chỉ thị gì cho luật sư ủy nhiệm thì cũng phải ghi ra giấy đưa cho luật sư ủy nhiệm, chứ không được nói.

Về luật sư Lô-dơ-bi, ông là một người rất nổi tiếng tại Hương Cảng, làm chủ nhiệm công ty luật sư “Russ” quy tụ nhiều luật sư nổi tiếng giúp việc, nên ông có thế lực lớn trong giới luật gia.

Hơn nữa, ông đã tham gia dạy Luật học tại trường Đại học Hương Cảng. Nhiều người trong số các chánh án, phó chánh án, ủy viên công tố tại Tòa án Hương Cảng là học trò cũ của ông. Bởi thế uy tín của ông càng rộng lớn.

Ngay từ lần gặp đầu tiên vào ngày 25/6/1931, luật sư Lô-dơ-bi đã tỏ ra rất có thiện cảm và nói với Tống Văn Sơ rằng: “Bác sĩ Tôn Dật Tiên được một người Anh cứu thoát. Nay tôi cũng ra sức cứu ông, ông hãy tin ở tôi. Ông hãy nói cho tôi nghe những điều gì có thể giúp cho việc bênh vực ông. Tôi không hỏi ông nhiều, vì mỗi người cách mạng đều có bí mật riêng của họ”.

Image
Luật sư Po-rít, người đã cùng luật sư Lô-dơ-bi giúp đỡ đ/c Nguyễn ái Quốc trong vụ án Hương Cảng 1931-1933 (ảnh tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Ông Tống nói không có tiền để trả cho phí tổn biện hộ. Luật sư Lô-dơ-bi đáp rằng: “Tôi biết ông là một lãnh tụ cách mạng Việt Nam. Tôi cãi hộ ông là vì danh dự chứ không nhất thiết chỉ vì tiền”.

Tham gia tranh tụng tại phiên tòa còn có một số luật sư khác, trong đó có luật sư J.C Gien-kin là phó của luật sư Lô-dơ-bi. Vì trước Tòa, chỉ có một luật sư được phát biểu ý kiến nên luật sư Lô-dơ-bi đã chuẩn bị sẵn bài cãi rồi ủy nhiệm cho luật sư Gien-kin phát biểu.

Luật sư Gien-kin là một trí thức rất thông minh và hùng biện, đồng thời hết lòng bào chữa cho Tống Văn Sơ. Ngay trong phiên tòa thứ nhất mở ngày 31/7/1931, chính quyền Hương Cảng đã không đưa ông Tống ra Tòa.

Luật sư Lô-dơ-bi chỉ thị cho luật sư Gien-kin phản đối và đòi hỏi Tòa phải đưa Tống Văn Sơ ra trước Tòa. Quả nhiên đến phiên thứ hai, chính quyền buộc phải đưa ông Tống ra hiện diện tại Tòa nhưng hai tay lại bị xích.

Thoạt nhìn thấy bị cáo vào phòng xử án trong tư thế như vậy, luật sư Lô-dơ-bi rất tức giận nhưng vì không được quyền nói nên ông liếc nhìn sang luật sư Gien-kin ra hiệu.

Vốn thông minh, nhanh nhạy, luật sư Gien-kin liền đứng ngay dậy chỉ vào đôi tay của ông Tống đang bị xích rồi hướng về phía quan tòa, giọng rất gắt gao rằng: Khi bị cáo ra tòa là đứng trước công lý, thân thể phải hoàn toàn tự do. Nay chưa biết bị cáo can vào tội gì, tại sao chính quyền lại đã dùng đến nhục hình xích tay trong phòng xử án.

Ông nói rất mạnh mẽ, đanh thép, trong khi đó, Tống Văn Sơ đứng trước vành móng ngựa giơ cao hai tay trước mặt quan tòa, lắc mạnh. Tiếng xích kêu loảng xoảng hòa cùng lời lẽ hùng biện của luật sư tạo nên một bầu không khí náo động trong phòng xử án.

Quan tòa đuối lý, sượng sùng, bèn vẫy tay bảo lính đưa bị cáo ra ngoài để tháo xích ra. Trong lúc đó, luật sư Gien-kin vẫn tiếp tục hùng biện cho đến khi ông Tống trở lại vành móng ngựa, hai tay tự do, lúc đó luật sư mới ngồi xuống.

Có một lần, quan tòa tỏ thái độ khiếm nhã đối với luật sư Gien-kin, ông đã tìm cách trả thù một cách “hợp pháp” và độc đáo. Nhân trong lúc biện hộ cho bị cáo, ông đã hùng biện trong nhiều giờ liên tục không ngưng nghỉ.

Quan tòa ngồi nghe đã rất mệt mỏi nhưng không có lý do gì để ngắt lời ông vì lý lẽ của ông đưa ra luôn mới mẻ không hề trùng lặp với những điều đã nói. Các vị quan tòa đành phải ngồi nghe cho hết. Sau “vụ” đó, không vị nào còn tỏ thái độ bất nhã với luật sư Gien-kin nữa.

Thế nhưng, đối chọi với các vị luật sư danh tiếng trên lại là cả một hệ thống pháp lý được sự hậu thuẫn của cả chính quyền Anh-Pháp với ý đồ đưa Nguyễn Ái Quốc về Việt Nam để hành hình! Cuộc chiến không cân sức này sẽ ra sao? Tống Văn Sơ liệu có thoát khỏi bàn tay của hai chính quyền thực dân đầu sỏ?

còn tiếp...

Theo báo Tiền Phong

More Articles …

  1. Vụ án Hương Cảng - kỳ 1
  1. You are here:  
  2. Home
  3. CHUYÊN ĐỀ
  4. Sự kiện
Copyright © 2026 Lịch Sử Việt Nam - Vietnam history. All Rights Reserved. Designed by JoomlArt.com. Joomla! is Free Software released under the GNU General Public License.