Một hãng hàng không không có tên chính thức trong bất cứ một chỉ dẫn nào của ngành hàng không thế giới: Air America. Đơn giản bởi vì đó là một hãng hàng không bí mật do CIA lập ra từ sau chiến tranh thế giới thứ hai chỉ để thực hiện những phi vụ đặc biệt.
Nhưng ít ai có thể ngờ được rằng một trong những phi vụ lớn nhất mà hãng hàng không này thực hiện lại chính là chiến dịch di tản trong những ngày cuối tháng 3 và tháng 4/1975, báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của chính quyền Sài Gòn, chấm dứt sự dính líu của Mỹ tại Việt Nam.
Vai trò của Air America ở Việt Nam lớn lên cùng chiến tranh, nó đáp ứng tôn chỉ của CIA: bất cứ việc gì, bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào.
Vào đầu năm 1954, dưới tên gọi Civil Air Transport, hãng hàng không của CIA này đã dính dáng đến một số điệp vụ bí mật. Đại tá tình báo Edward Lansdale và các đồng sự đã chỉ đạo trực tiếp hai nhóm điệp viên ở miền Bắc Việt Nam, bí mật thoát ra theo ngả Hải Phòng vào Sài Gòn học lớp huấn luyện rồi lại được tung trở lại miền Bắc. Hãng Civil Air Transport cũng đã bí mật chuyên chở hơn 8 tấn vũ khí và trang bị kỹ thuật đã vào Hải Phòng cùng những con tàu chuyên chở dân di cư theo hồi 1954, để những nhóm gián điệp này hoạt động.
Nhưng đến cuối năm 1964, chỉ còn có một nhúm khoảng một chục phi công tiếp tục thực hiện những chuyến bay bí mật được tiến hành một cách thưa thớt. Khi đó CIA cũng không phải trả phụ cấp nguy hiểm cho họ nữa. Trước khi phát triển thành cả một đội quân lớn, nhiệm vụ của Air America chỉ giới hạn trong việc thực hiện các hợp đồng với Cơ quan Viện trợ Mỹ USAID, chuyên chở các cố vấn và nhân viên CIA đi loanh quanh đây đó. Đó chỉ là những phi vụ chuyên chở thương mại, nhẹ nhàng như những chuyến du lịch và xuất phát từ phi trường Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn. Chỉ đến thời cao điểm của chiến tranh, quân số của hãng hàng không CIA này mới lên tới 240 người, chỉ tính riêng tại Sài Gòn. Các máy bay của Air America có mặt ở khắp mọi nơi và thực hiện các phi vụ bí mật suốt cả bảy ngày trong tuần.
Cuộc sống của những phi công Air America trong giai đoạn đầu chiến tranh khá thoải mái, nếu không nói là rất nhiều bổng lộc. Sài Gòn khi đó vẫn còn là một thành phố châu Á khá hiền lành, chưa bị thối ruỗng bởi những bước chân lính viễn chinh. Thuế má, giá cả sinh hoạt, nhà cửa đều rẻ và các chuyến bay cũng không nguy hiểm lắm. Nhưng đến khi quân đội Sài Gòn được xây dựng và một số lượng lớn các binh sĩ Mỹ đặt chân tới đây thì sự bình yên nhỏ nhoi đó đã biến mất vĩnh viễn.
"Dường như tất cả mọi người đều đổ xô tới Sài Gòn" - Les Strouse, người quản lý đơn vị Air America tại Sài Gòn giai đoạn đó nói - "Theo quan điểm của tôi, không có một người lính Mỹ nào thuộc về nơi đó cả. Họ tới đó để chiến đấu, chứ không phải để mòn mỏi trong những khách sạn ở trung tâm thành phố. Sài Gòn trở thành một nơi ưu tiên để các GI (lính Mỹ) tới uống say xỉn và hành xử một cách ghê tởm. Dần dà rồi những người Việt cũng thế cho dù trước đấy, họ chưa bao giờ như vậy. Mà lính Mỹ thì đã luôn là như thế".
Đến cuối năm 1964 thì Air America bắt đầu phát triển với quy mô ghê gớm. Chỉ trong vòng 10 tháng, nó đã tăng gấp đôi số giờ bay và rồi lại tiếp tục tăng gấp đôi nữa trong 8 tháng tiếp theo đó. Các chuyến bay hằng ngày tăng gấp đôi trong 6 tháng, rồi tăng lên gấp ba lần trong 3 tháng sau đó. Các chuyến vận tải hàng hóa tăng với cấp số nhân. Đến năm 1969, Air America đã sử dụng 9 loại máy bay khác nhau để thực hiện các phi vụ, trong đó có 8 loại máy bay cánh phẳng cố định và một loại khác là trực thăng Bell 204B. "Thành công của một chiến dịch kiểu này là tính linh hoạt của nó", CIA tuyên bố như vậy trên tờ tạp chí của cơ quan này. "Linh hoạt, đó là tựa đề câu chuyện của Air America".
Air America vận chuyển bất cứ thứ gì mà nó được giao. Các máy bay của hãng chở các vị khách VIP, các tù nhân và cả những con bò hiền lành; khách hàng của Air America còn có lính Mũ nồi xanh, một đơn vị tuyệt mật do CIA điều khiển và cả những cố vấn Mỹ trong chiến dịch Phượng Hoàng (cũng là một chiến dịch của CIA nhằm triệt phá những cơ sở của lực lượng giải phóng miền Nam, chỉ trong hai năm rưỡi đầu tiên của chiến dịch này, đã có 20.587 người bị nghi là cộng sản đã bị giết).
Hàng hóa lạ lùng nhất mà Air America đã từng chuyên chở là một số nhân vật bí hiểm. "Một vài người khá là kỳ cục - Art Kenyon, một phi công từng làm việc cho Air America, lái loại máy bay cánh cố định C-46, nói - Chúng tôi đã đôi lần chở những tài liệu tuyệt mật, có lẽ là người của CIA mang đi. Khi đó, chúng tôi không được phép chở bất kỳ một người nào khác nữa. Một anh chàng mang theo một cái xắc nhỏ chứa tài liệu mật và cũng như hầu hết các hành khách của chúng tôi, anh ta mang theo vũ khí. Họ có đủ các loại vũ khí, chỉ có súng bazoka là tôi chưa thấy mang theo mà thôi. Tôi đã từng chở những người mang theo súng máy, tiểu liên M16, lựu đạn cầm tay và đủ thứ tương tự".
Một trong những nhân vật quan trọng nhất mà máy bay của Air America đã từng chở chính là Richard Nixon, trước khi ông ta lên làm Tổng thống Mỹ. Ông ta tới đồng bằng sông Cửu Long vào năm 1965 trên một chiếc Beechcraft do Bob Murray cầm lái.
Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, các máy bay của Air America đã thực hiện rất nhiều phi vụ bí mật, tham gia tiếp ứng cho quân Mỹ trong chiến dịch Khe Sanh, các chiến dịch quân sự ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đưa tù binh ra Côn Đảo, chuyên chở các nhân viên trong Ủy ban liên hợp 4 bên về Hiệp định Paris...
Các phi công của Air America nghĩ rằng họ đã thực hiện hầu hết những công việc có thể làm, nhưng họ không thể ngờ được rằng, đến một ngày, sẽ phải tham gia vào một trong những chiến dịch tháo chạy có quy mô lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Khi những thành phố nối tiếp nhau rơi vào tay quân giải phóng, thì các phi công Air America chỉ còn một nhiệm vụ duy nhất là thực hiện các chuyến bay di tản.
Đó là những điệp vụ vô cùng căng thẳng. Nỗi hoảng loạn và tình trạng vô chính phủ còn đi trước bước chân của đối phương (quân đội giải phóng) và những máy bay trực thăng của Air America trở thành phương tiện duy nhất đối với một số người Việt Nam muốn bỏ chạy. Tại nhiều thành phố, binh lính trong quân đội Nam Việt Nam chạy lung tung, xả súng vào thường dân và vào cả những chiếc máy bay của Air America.
Việc di tản được thực hiện theo phương châm: di tản những người "nhạy cảm", tức là những người đã từng cộng tác, làm việc với quân đội Mỹ, CIA và các cơ quan tình báo, Cơ quan viện trợ Mỹ USAID hoặc những cơ quan khác tương tự. Những người này được phát những tấm vé đặc biệt cho phép họ ra đi. Các máy bay của Air America chỉ việc bay vào và bốc người đi. Mọi việc thoạt tiên có vẻ suôn sẻ. Ngày đầu tiên của cuộc di tản diễn ra tương đối trật tự, nhưng sang đến ngày thứ hai thì đã thể hiện rõ sự vô tổ chức. Số người ở những điểm tập trung để di tản nhiều hơn gấp nhiều lần so với số lượng người có thể chở đi được; xô xát nổ ra và hệ thống phân phối vé đặc biệt bị phá vỡ, dẫn đến tình trạng những người thuộc diện "nhạy cảm" thì không có vé, trong khi những người thuộc diện "nguy cơ thấp" lại có. Sang đến ngày thứ ba thì tình thế đã hoàn toàn trở nên hỗn loạn.
"Cuộc di tản diễn ra trong sự hoảng loạn" , Art Kenyon kể lại. "Đám đông hoàn toàn hoảng sợ và mất kiểm soát. Chúng tôi phải kéo thang dây lên, đóng cửa những chiếc C-46 lại. Mọi người bên dưới công kênh nhau leo lên cánh máy bay, đập cửa để đòi chúng tôi cho họ vào bên trong".
"Một lần, chúng tôi kéo cầu thang máy bay lên và cho ngừng hoạt động một động cơ, bởi vì chúng tôi không muốn phí thì giờ. Luôn có nguy cơ một ắc quy cạn kiệt và phải luôn có một động cơ khác sẵn sàng khởi động. Chúng tôi ngừng động cơ bên trái máy bay trong khi những hành khách đang lên.
Khi đó có khoảng 9 người đang treo lủng lẳng dưới cánh của máy bay và một nhóm khác tụm lại ở chỗ động cơ bên trái. Bạn có thể khởi động động cơ của một chiếc C-46 bằng cách xoay cánh quạt phía trước cánh một chút và tôi đã làm vậy. Tôi ló đầu ra khỏi cửa máy bay và quan sát. Tôi hơi đẩy cánh quạt dẫn hướng của máy bay khoảng một hai bộ để nếu nó có quệt vào ai đó thì cũng không khiến cho người ta bị thương. Họ có thể nhìn thấy nó chuyển động và cảm thấy sự nguy hiểm. Tôi tăng sức quay của cánh quạt lên 3 bộ (khoảng hơn 30 cm), rồi 6 bộ. Những người trên cánh máy bay dạt ra. Tôi bắt đầu khởi động động cơ. Rồi chúng tôi đẩy tất cả những người này xuống".
Các phi công thường chờ cho đến khi máy bay đầy ứ người, nặng đến hết mức rồi mới cất cánh. Theo lý thuyết, một chiếc C-46 có thể chở được 51 người, nhưng một phi công của Air America, trong những ngày ấy khi cất cánh khỏi Pleiku đã mang theo 142 quân nhân trang bị đầy đủ vũ khí và nó cần phải bay tới 90 dặm để có thể lên tới độ cao khoảng 1.000 bộ (khoảng hơn 300 m). Tải trọng tối đa cho một chiếc C-46 vào khoảng 46.000 pound (khoảng 22.000 kg), nhưng sau chuyến bay này, các phi công ước tính rằng họ đã chuyên chở một trọng lượng nặng tới 57.000 pound. Còn những chiếc C-47, thông thường chở khoảng 30 người thì trong những ngày ấy thường xuyên phải chở tới 80 người. Riêng loại máy bay vận tải hạng nặng DC-6 của Air America thì đã ghi nhận được là có chuyến chở tới 340 người.
"Tôi sẽ không bao giờ quên được cảnh tượng trên con đường dẫn ra khỏi Pleiku", Fred Anderson, một phi công của Air America nhớ lại. "Cả một khối người đen đặc di chuyển trên đường, mang vác theo tất cả những gì mà họ có thể mang vác được".
Đấy là thời gian mà sự căng thẳng thần kinh luôn chế ngự tất cả. Những người di tản tụ tập tấn công các máy bay, bắn chỉ thiên, trong khi những binh sĩ quân đội Sài Gòn trong tình trạng thất vọng thậm chí còn nguy hiểm hơn cả kẻ thù. "Tất cả những phát súng bắn vào chúng tôi trong những ngày Pleiku sụp đổ đều là do quân đội Việt Nam cộng hoà”, Wayne Lannin, một phi công khác của Air America kể lại. “Tràn ngập một không khí thất vọng và vỡ mộng. Tất cả mọi người đều ở trong tình trạng bị kích động; họ chỉ muốn thoát ra khỏi vùng chiến sự càng nhanh càng tốt và không muốn suy nghĩ bất cứ điều gì. Đó là một tình trạng vô chính phủ hoàn toàn, khi con người bị hạ thấp xuống đến mức thấp nhất về nhân cách".
Cuộc di tản ở Đà Nẵng diễn ra tồi tệ hơn nhiều. "Đó không những là một thất bại mà là một sự tan biến", Lannin nói. "Quân giải phóng đã chiếm được Huế, trên suốt quãng đường 7 giờ đồng hồ từ Huế vào Đà Nẵng, họ không hề gặp phải bất cứ một sự kháng cự nào".
Và thế là họ đã ở đâu đó bên ngoài Đà Nẵng, thành phố đang sụp đổ bởi chính nó. Lính Việt Nam Cộng hoà trở nên cuồng loạn. Họ chạy trên đường phố với súng máy trong tay, giật nữ trang khỏi các thi thể, hãm hiếp phụ nữ.
Tại một khu phố ven biển, quân đội Sài Gòn thiết lập một bến đỗ để những chiếc xà lan có thể cập vào di tản dân chúng. Binh lính Việt Nam Cộng hoà lái những chiếc xe tăng, xe tải hai tấn rưỡi hoặc bất cứ thứ gì họ có, nhào ra những ngọn sóng ngoài biển, cởi bỏ quân phục, vứt lại tất cả mọi vũ khí trang bị của họ trên bờ. Trên bờ biển không có gì khác ngoài những bộ phận rải rác các trang bị vũ khí mà lính Sài Gòn vứt lại. Những người lính này ào ra quây lấy chiếc xà lan và bắn vào những dân thường đang leo lên xà lan. Thậm chí, họ đã cướp hai hay ba chiếc thuyền đánh cá để dùng làm phương tiện chạy trốn.
Lãnh sự quán Mỹ ở Đà Nẵng đã chuẩn bị sẵn một số máy bay để dùng cho tình huống di tản có thể xảy ra, đặc biệt là trong tình trạng nguy ngập và được bảo vệ bởi lính thủy đánh bộ Mỹ. Những người thuộc vào diện "nhạy cảm" phải di tản từ Đà Nẵng có khoảng 50 người làm việc trong Lãnh sự quán Mỹ - một nửa trong số đó là nhân viên CIA - cùng với khoảng một ngàn nhân viên địa phương. Thế nhưng cộng với bạn bè và gia đình của những người này, số người Việt Nam phải di tản khỏi Đà Nẵng lên tới mười ngàn người. Kế hoạch di tản ban đầu đặt ra ở mức độ hạn chế, bằng đường không và đường biển và sẽ kéo dài trong khoảng một tuần hoặc hơn một chút.
Thế nhưng mọi sự không diễn ra như dự kiến. Khi quân giải phóng bắt tấn công Đà Nẵng vào sáng ngày 25/3 thì ngay lập tức, sự căng thẳng và hoảng sợ đã bao trùm trên toàn thành phố. Trong mười ngày trước đó, hơn nửa triệu người di tản đã đổ về Đà Nẵng từ khắp mọi hướng. Kế hoạch di tản ban đầu của CIA nhanh chóng phá sản bởi vì không đủ máy bay. Khi người lãnh đạo CIA tại Đà Nẵng yêu cầu thêm máy bay của Air America để giúp đẩy nhanh tốc độ di tản người Mỹ, anh ta được trả lời một cách đơn giản rằng không có máy bay dự phòng.
Vé máy bay được phân phối cho người Việt Nam để di tản trên các chuyến bay của Air America trong chiến dịch mang mật danh Freedom Train, mặc dù rõ ràng là sẽ không có đủ chỗ cho tất cả mọi người. Không quân Mỹ cũng đã bác bỏ một yêu cầu cung cấp thêm máy bay trực thăng sử dụng cho chiến dịch di tản có thể xảy ra ở Phnom Penh.
Cầu hàng không bắt đầu vận hành khá trơn tru. Trong ngày đầu tiên, các máy bay C-47 của Air America và Boeing 727 của hãng World Airways cất, hạ cánh đưa người đi mà không gặp phải rắc rối nào cả. Cứ mỗi khi một chiếc máy bay hạ cánh là hàng trăm người Việt Nam, trên người lỉnh kỉnh những tài sản quý nhất mà họ có cùng với trẻ con và cả những con vật yêu quý của họ nữa, lại tràn vào đường băng để tìm cách leo lên phương tiện giúp họ thoát ra khỏi thành phố đang chìm ngập trong sợ hãi.
Những nỗ lực của các phi công Air America cố gắng duy trì chiến dịch di tản trong trật tự đã nhanh chóng bị thất bại. "Tôi đã từng chứng kiến những gì xảy ra ở Pleiku, bởi vậy khi bắt đầu chiến dịch di tản mọi người ra khỏi Đà Nẵng, tôi ra khỏi máy bay, lấy vẻ mặt dữ dằn và buộc mọi người xếp thành một hàng dọc", Art Kenyon kể lại. "Một vài đứa bé chạy ra khỏi hàng và chen lên phía trước khoảng sáu hay bảy người gì đó, tôi túm lấy chúng, đưa chúng về tận cuối hàng và bảo: "Các cậu phải đứng ở đây đợi đến khi nào tôi bảo thì các cậu mới được lên máy bay". Tôi đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm và cũng đã kiểm soát được tình hình đôi chút. Thế nhưng chỉ với khoảng một trăm nhân viên, trong khi có tới năm ngàn người xung quanh thì bạn chẳng thể làm gì hơn được".
Mọi người di tản đều hoảng sợ bởi vì họ luôn nghĩ rằng mỗi một chiếc máy bay hạ cánh xuống đều có thể là chiếc cuối cùng. Không có một ai nói với họ rằng nếu như họ để cho những chiếc máy bay đầy người rời khỏi đó càng nhanh thì nó sẽ lại càng quay lại sớm hơn để đón họ. Đám đông những người di tản tuyệt vọng là một mối nguy hiểm thật sự bởi vì trong trạng thái điên cuồng, họ có thể phá tan tành cả những chiếc máy bay.
Việc thực hiện những phi vụ di tản khiến cho nhiều phi công cảm thấy nguy hiểm hơn cả những điệp vụ thực hiện trong vùng chiến sự. Ngay cả những người đã có nhiều năm bay cho Air America cũng phải sốc khi nhìn thấy những cánh tay đầm đìa máu của những người di tản không lên được máy bay đập vào cánh cửa của chiếc máy bay sắp rời đi. Nhiều người nhìn thấy chiếc máy bay sắp sửa cất cánh biết rằng không thể nào trèo qua đầu đám đông để lên được máy bay đã ném những đứa con của họ qua cánh cửa vào trong máy bay.
Khi số lượng người di tản bất ngờ phình ra nhanh chóng thì việc thực hiện chiến dịch tại sân bay chính hầu như không thể tiến hành được nữa. Các trực thăng của Air America bắt đầu chở một số người tới một đường băng gần Non Nước để thực hiện di tản có giới hạn.
Những người di tản hoảng loạn đã chiếm giữ đài kiểm soát không lưu ở sân bay chính của Đà Nẵng. "Chúng tôi luôn phải chạy lòng vòng, bởi vì nếu như cho máy bay đứng yên một chỗ thì ngay lập tức sẽ có khoảng năm nghìn người vây xung quanh trong vòng vài giây", Lannin, người đã lái trực thăng trong những ngày ấy, kể. "Chúng tôi bốc một số người cần được di tản tới một đường băng dùng cho máy bay cánh cố định và sau đó những máy bay C-47 có trách nhiệm đưa số người này đi".
Đã có một nỗ lực nhằm nối lại việc di tản ở sân bay chính của Đà Nẵng. Một chiếc Boeing 727 của World Airway hạ cánh xuống đó đã bị khoảng năm ngàn người Việt Nam bao vây. Việc các nhân viên an ninh Mỹ bắn chỉ thiên không gây được một hiệu quả đáng kể nào và đám đông cuồng loạn tiếp tục giẫm đạp lên đàn bà, trẻ em. Khi những người di tản bắt đầu leo lên bánh máy bay, viên phi công vội vàng khởi động động cơ và cho máy bay cất cánh ngay lập tức.
Khi ấy, những chuyến bay trực thăng của Air America đưa người tới sân bay phụ ở Non Nước được duy trì một cách đều đặn, thường xuyên hơn. Hai chiếc trực thăng của Air America bay tới sân bay chính của Đà Nẵng đón các nhân viên của tòa lãnh sự Mỹ cùng với thân nhân trong gia đình họ đang bị kẹt trong số khoảng mười ngàn người tại đây. Việc xuất hiện hai chiếc trực thăng này tại sân bay chính khiến cho đám đông càng trở nên kích động hơn bởi vì họ dường như hiểu rằng đó là phương tiện duy nhất đưa họ đi.
Hai chiếc trực thăng khác cũng của Air America chuyên chở những nhân viên quân sự Mỹ từ trung tâm Đà Nẵng tới sân bay ở Non Nước trong suốt buổi sáng ngày 28/3. Đến trưa, hai chiếc máy bay này gần hết nhiên liệu và phải bay tới một căn cứ của lính thủy đánh bộ Mỹ nằm ở phía nam Đà Nẵng để tiếp liệu. Tại đây, một nhóm cảnh sát quốc gia của chính quyền Nam Việt Nam yêu cầu phi công cho họ lên máy bay di tản. Khi viên phi công từ chối và cất cánh, những cảnh sát này đã nổ súng nhằm vào máy bay. Máy bay trúng bốn phát đạn, còn viên phi công bị thương vào ngực.
Trong khi các trực thăng của Air America tiếp tục chiến dịch chuyển những người di tản từ nơi này đến nơi khác thì một nhóm người Việt Nam thuộc diện "nhạy cảm" đã bị bỏ sót. Đến cuối ngày 28/3, Tổng lãnh sự Mỹ tại Đà Nẵng mới phát hiện ra nhóm người này và ngay lập tức ông ta điện yêu cầu một chuyến bay của Air America tới để di tản họ. Nhưng để đảm bảo cho chiếc máy bay C-47 của Air America hạ cánh an toàn, ông Tổng lãnh sự Mỹ đã phải thực hiện một thỏa thuận trao đổi với một số sĩ quan trong quân đội Nam Việt Nam phụ trách đơn vị súng phòng không bảo vệ sân bay: một số sĩ quan và nhân viên quân sự trong đơn vị này sẽ được di tản trên máy bay này để đổi lại việc họ bảo vệ cho sân bay trong khi chiếc máy bay hạ cánh.
93 người, hơn một nửa trong số đó là các sĩ quan quân đội Nam Việt Nam, đã lên chuyến bay cuối cùng của Air America rời khỏi Đà Nẵng. Khi chiếc máy bay cất cánh, hàng trăm lính Nam Việt Nam đã bao vây, bám vào cánh và thùng nhiên liệu của chiếc máy bay. Viên Tổng lãnh sự Mỹ chạy từ bên này sang bên kia, cố gắng sử dụng nắm đấm để gạt những người lính kia xuống. Nhưng rồi chính ông ta bị kéo ngã xuống đất, bị đám đông lính tráng đấm đá, cuối cùng thiệt mạng và bị bỏ lại ở đó.
Sáng hôm sau, 29/3, chuyến bay di tản cuối cùng rời khỏi Đà Nẵng diễn ra còn kinh hoàng hơn. Ed Daly, người phụ trách hãng World Airway ra lệnh cho 2 chiếc Boeing 727 của ông ta bay vào thành phố. Ông ta đã không kịp xin phép Sài Gòn nhưng vẫn cố gắng thực hiện phi vụ di tản này và tự mình bay trên chiếc máy bay đầu tiên.
Khi chiếc máy bay hạ cánh, nó đã lập tức bị cả một biển người bao quanh và chỉ trong vòng có 10 phút, bên trong máy bay đã lèn chặt tới 270 người. Nếu như Ed Daly hy vọng có thể di tản phụ nữ và trẻ em trong chuyến bay cuối cùng này thì quả thật ông ta đã phải hoàn toàn thất vọng. Ngoại trừ hai phụ nữ và một đứa bé, toàn bộ số người còn lại trên máy bay đều là những binh sĩ thuộc một trong những đơn vị được coi là hung hãn nhất trong quân đội Nam Việt Nam có tên là Hắc Báo. Bọn chúng không ngần ngại sử dụng vũ lực để có thể lên được máy bay và một tên trong bọn này đã đạp vào mặt một bà cụ để lọt vào bên trong.
Khi chiếc máy bay bắt đầu cất cánh, những người lính khác không lên được dạt sang một bên và bắt đầu ném lựu đạn về phía máy bay. Lựu đạn nổ khiến cho cánh gió và bộ hạ cánh máy bay không thể mở ra được hết cỡ. Những người bám dưới hai cánh và bộ hạ cánh sau đấy chỉ còn cách buông tay và chắc chắn thiệt mạng trong khi những người khác bị bánh máy bay nghiền nát. Chỉ có 4 người bám được vào bánh máy bay suốt trên đường bay vào tới Sài Gòn.
Một đội quay phim truyền hình của Anh đã phạm phải sai lầm lớn lúc chiếc máy bay hạ cánh xuống đón những người di tản. Họ ra quá xa máy bay và không thể nào lên lại được khi nó cất cánh. Người quay phim trong đội chỉ kịp ném chiếc máy quay với những cuốn phim anh ta quay được vào bên trong trước khi cánh cửa của máy bay đóng lại. Sau đấy, một chiếc trực thăng khác của Air America hạ cánh xuống được và đưa họ đi. Chiếc Boeing 727 thứ hai khi đó cũng đã ở trên không trung.
Một máy bay của không lực Mỹ chở khoảng 300 trẻ em mồ côi sang Mỹ để các gia đình nhận làm con nuôi đã lao xuống đất, cách sân bay Tân Sơn Nhất gần một dặm. Chỉ 120 em nhỏ sống sót.
Cánh cửa khoang chở hàng bị bung ra khi chiếc máy bay này cất cánh, trong khi dây dẫn điều khiển bị kẹt khiến cho viên trưởng cơ không thể nào nghiêng được cánh trong khi bay trừ khi thay đổi công suất. Khoảng năm chục người lớn và trẻ em ở trong khoang dưới đã chết vì thiếu dưỡng khí ngay khi giảm áp, trong khi những người khác bị hút ra phía cánh cửa khoang chứa hàng mở toang. Phi công cố gắng đưa chiếc máy bay quay lại sân bay, nhưng không thể nào nghiêng sang trái để thực hiện điều đó, chiếc phi cơ mất độ cao. Viên phi công cố gắng giảm công suất để hạ cánh, suýt chút nữa thì đâm thẳng xuống một con kênh.
Khi chiếc trực thăng tiếp đất, một số bộ phận của nó văng tứ tung, trong đó có cả vỏ động cơ và bánh. Nó chồm qua con kênh, đáp xuống một bãi lầy với tốc độ thấp nhất có thể. Hai bên cánh máy bay bị gãy và nó dừng lại được trong khi nước bắt đầu tràn vào trong khoang. Mũi trực thăng văng ra giết chết viên phi công phụ, nhưng phần thân vẫn còn nguyên và bộ phận cửa cấp cứu có thể mở ra được.
Khi vụ tai nạn xảy ra, một chiếc trực thăng của Air America đang bay ở gần đó và nó ngay lập tức bay tới hiện trường. Những chiếc khác theo sau và Art Kenyon, khi đó không ở trong phiên trực, đang ra bên ngoài sân bay để nhận thư, đã tình nguyện đảm nhiệm vai trò của viên phi công phụ. Khi kể lại sự kiện này, anh ta vẫn không giấu nổi nỗi xúc động.
"Khi tôi tới nơi thì những người bên trong máy bay đã mở được cửa cấp cứu khẩn cấp. Một thanh niên đang đứng, trên tay bồng một đứa nhỏ. Trực thăng không thể nào hạ cánh xuống được đầm lầy; nó chỉ có thể treo là là, cố giữ khoảng cách đủ để không bị đầm lầy nuốt lấy. Cũng thật khó khăn khi phải đi bên dưới một chiếc trực thăng đang treo trên không như vậy; bạn sẽ di chuyển rất khó khăn trong khi cả một cơn lốc xoáy do những cánh quạt máy bay tạo ra ập vào người bạn. Tôi nhảy ra khỏi chiếc trực thăng của mình, bùn ngập tới đầu gối và bắt đầu cố gắng di chuyển về phía chiếc phi cơ gặp nạn.
Một lính Mỹ với khuôn mặt đầy máu, tôi nghĩ có lẽ anh ta là thượng sĩ, chuyền hai đứa trẻ cho tôi. Tôi bế mỗi đứa bằng một tay và cố gắng quay trở lại chiếc trực thăng vẫn đang treo lơ lửng trên đầm lầy, thế nhưng sức nặng của bản thân cộng thêm 2 đứa bé khiến chân tôi dần dần bị hút chặt xuống bùn. Bùn dâng dần lên tới nách, tôi bắt đầu chới với. Cuối cùng thì một ai đó đã tới và đỡ giúp tôi một đứa bé, tôi bế đứa còn lại và cố gắng trồi lên, thoát ra khỏi chỗ bùn lầy.
Tôi vẫn còn nhớ một hình ảnh kinh hoàng sẽ còn ám ảnh tôi mãi mãi. Một bé gái, chừng 4 tuổi, hai chân đều đã bị cắt đứt, bị kẹt giữa thân máy bay, máu tuôn xối xả. Tôi cứ nhìn cái phần còn lại của cơ thể đứa bé ấy đang chết dần... Thật khủng khiếp".
Những người tới tiếp cứu cố gắng đưa một người Mỹ mặc đồ dân sự, toàn thân đầy máu, ra khỏi chiếc máy bay bị nạn. Cứ mỗi lần nhích ra được một chút, anh ta lại thét lên vì đau đớn. Một ai đó đã kê một chiếc gối bên dưới đầu để anh ta khỏi bị chìm xuống bùn. Lúc ấy, họ cũng đưa ra khỏi máy bay xác một nữ y tá đi theo chăm sóc cho bọn trẻ đã chết trong tai nạn. Trong tiếng gầm đinh tai nhức óc của cánh quạt trực thăng, người đàn ông bắt đầu rống lên.
- Anh đang làm cái quái gì vậy?
- Người y tá kia kìa, cô ta chết rồi.
- Đừng để ý đến cô ta làm gì nữa. Còn cả đống người sống ở đây này. Hãy cố gắng đưa những người còn sống ra khỏi máy bay đã.
Trong tổng số 300 trẻ em trên chuyến bay này chỉ có khoảng 120 em được cứu sống, mặc dù hầu hết đều bị thương. "Có một phần của chiếc máy bay bị vỡ ra và những em ngồi tại khu vực đó đã sống sót", Kenyon giải thích. "Một số bị xây xát trên mặt, miệng mũi đầy máu, nhưng tôi thấy không có em nào bị thương nặng cả".
Điều lạ lùng là không một đứa trẻ nào ngay cả những đứa bé sơ sinh bật khóc. "Thật kỳ quặc. Bọn trẻ hoàn toàn yên lặng", Kenyon nói. "Không một đứa nào thút thít hay rên rỉ. Hoàn toàn yên lặng, không một tiếng động. Cứ như có ma vậy".
Bọn trẻ được máy bay đưa về lại sân bay Tân Sơn Nhất. Một nhân viên CIA có mặt tại đó kể lại: "Khi bọn trẻ được đưa ra khỏi trực thăng vào trong các xe cứu thương, không một ai biết chắc rằng bọn chúng còn sống hay đã chết. Hầu hết bọn chúng đều bê bết bùn từ đầu tới chân và chỉ sau khi chúng được đưa ra khỏi xe cứu thương, chúng tôi mới bắt đầu xác định tình trạng của bọn chúng. Các y tá chỉ việc đưa chúng xuống dưới vòi nước để gột rửa hết bùn đi rồi khi ấy mới nói: Đứa này còn sống; đứa này đã chết.
Sau một lát, tôi cùng với mấy người Mỹ khác bắt đầu dồn những đứa trẻ không bị thương lên xe Jeep và xe ca để đưa chúng trở lại nhà nuôi dưỡng trẻ mồ côi. Nhiều đứa vẫn còn sợ đến nỗi chúng không thể khóc được. Trên tay chúng tôi, nom chúng như những miếng giẻ bé xíu và mệt lả.
Không một đứa nào có biển tên mà chỉ có những vòng cổ tay ghi những cái tên đơn giản như New York, New Jersey, đại loại như vậy. Đấy là tên những bang của nước Mỹ nơi chúng đáng lẽ sẽ tới để được nhận làm con nuôi. Vấn đề khó khăn lớn đối với chúng tôi khi đó là xác định chính xác xem những đứa trẻ sống sót có tên là gì. Trong suốt cả buổi chiều hôm ấy, tôi phải đối chiếu những chữ ghi trên vòng đeo tay của bọn trẻ với tên có trong danh sách, sau đấy thảo những bức thư để thông báo cho các gia đình ở Mỹ biết rằng những đứa trẻ mà họ định nhận làm con nuôi đã chết".
Chỉ còn Sài Gòn là chưa sụp đổ. Rõ ràng, cuối cùng số phận của nó cũng giống như những thành phố khác ở Nam VN, nhưng Đại sứ Mỹ Graham Anderson Martin vẫn chưa ra lệnh di tản. Phi công của Air America ở Sài Gòn cảm tưởng rằng ông đại sứ biết được điều gì đó mà họ không biết!
Họ cho là có thể quân đội Sài Gòn cuối cùng đã gượng lại được. Trong các phi công xuất hiện một tâm trạng lạc quan sai lầm bởi vì thực ra ông đại sứ Mỹ chẳng biết gì hết và quân đội Sài Gòn cũng không gượng lại được.
"Quân giải phóng đã dồn quân đội Sài Gòn vào chân tường và sau Sài Gòn, sẽ chẳng còn nơi nào để binh lính Việt Nam Cộng hòa trốn chạy nữa", Art Kenyon nói. "Tôi đã cho rằng các đơn vị bộ binh của quân đội Sài Gòn có thể gượng dậy và chống cự bởi họ biết rõ rằng họ không thể chạy xa hơn được nữa. Tôi cũng có cảm giác rằng quân giải phóng muốn chiếm được Sài Gòn một cách nguyên vẹn chứ không muốn có trong tay một thành phố đã bị phá hủy. Khi ấy, cũng như những nhận định sai lầm của vô số các sĩ quan tình báo khác, tôi đã tin rằng rồi một liên minh sẽ được tái lập và tôi chẳng hề vội vã chuẩn bị rời khỏi Việt Nam. Nhưng rồi trong hai tuần lễ cuối cùng, tôi mới thấy hóa ra mọi việc chẳng hề giống như tôi đã dự đoán".
Tâm trạng lạc quan cũng có ở ông đại sứ Mỹ, bất chấp sự suy sụp và thất vọng, vẫn hy vọng rằng cuối cùng sẽ có một giải pháp chính trị và vì vậy, ông ta đã hoãn lệnh di tản chậm đến hết mức có thể bởi sợ rằng nó sẽ gây nên tâm lý hoảng loạn. Phương án IV (Option Four), mật danh của cầu hàng không di tản với sự tham gia của một số lượng lớn trực thăng, chỉ được coi là cách bất đắc dĩ sau cùng.
Bị ru ngủ bởi cái cảm giác an toàn lan tràn trong hàng ngũ các quan chức cấp cao, nhiều phi công của Air America đã mất tất cả những gì họ có. "Tôi đã hợp đồng với một công ty vận chuyển khoảng một ngàn pound hàng hóa trị giá gần 2.000 USD, nhưng hợp đồng này đã không bao giờ được thực hiện", Art Kenyon nói.
Anh ta cũng bị mất một ngôi nhà lớn với đồ nội thất đắt tiền, một trang trại trồng cây ăn quả, 2 xe hơi và một chiếc mô tô, giá trị tổng cộng vào khoảng 104.000 USD. Anh ta được Air America bồi thường có 12.000 USD, thêm 9.000 USD nữa bằng tiền mặt do bán đổ bán tháo những đồ vật đã bị hư hại.
Người chỉ huy chiến dịch di tản của Air America đã thông báo cho 34 phi công vẫn còn ở lại Sài Gòn biết về chiến dịch di tản trên các mái nhà trong Phương án IV. Lính thủy đánh bộ đã thảo một kế hoạch sử dụng các xe buýt và một số ít trực thăng gom những hành khách đặc biệt từ một số điểm phân bố rải rác tại thành phố trong "Ngày E", đưa họ tới các địa điểm chờ ở Tân Cảng và phi trường Tân Sơn Nhất. Trên mái bằng của 13 tòa nhà sứ quán trong thành phố, người ta phá bỏ các ống khói cũng như cột ăng ten để có thể sử dụng trong trường hợp khẩn cấp.
Đề nghị vạch chữ H trên mái bằng của các tòa nhà để các máy bay trực thăng xác định được chính xác kích thước của mái nhà khi hạ cánh đã bị đại sứ Mỹ bác bỏ với lý do chúng có thể khiến cho những người giúp việc và lao công hoảng sợ khi họ leo lên mái để lau dọn. Cuối cùng thì người ta thay ký hiệu đường thẳng bằng những dấu chấm. Người chỉ huy chiến dịch nói rằng bất cứ phi công nào của Air America cảm thấy chiến dịch này quá nguy hiểm đều có thể từ chối không tham gia. Có ba phi công đã làm như vậy.
Ngày lại ngày, sự căng thẳng bên trong thành phố cứ tăng dần lên. Đại úy phi công Fred Fine (tên trong khi tác chiến của "Big" Fred Walker) bắt đầu ghi nhật ký từ giữa tháng 4/1975. Đó là một biểu đồ hàng ngày mô tả cuộc sống bấp bênh, đầy rẫy những tin đồn và nguy hiểm ngày càng tăng lên trong thành phố. "Ngày 15/4: 10 giờ 30 phút đêm. Một tiếng nổ cực lớn làm rung chuyển tòa nhà chúng tôi đang ở. Kho đạn ở Biên Hòa bị nổ rồi. Sau đó là những tiếng nổ lớn khác nữa. Hôm nay, nghe đồn rằng tàu bè di tản ở Vũng Tàu đã rời đi Philippines. Sẽ di tản tất cả những người Mỹ hoạt động công khai trong vòng 7 đến 10 ngày".
4 ngày tiếp theo đó trong cuốn nhật ký kể về việc quân giải phóng tiến về từ khắp mọi hướng, nhiều sư đoàn áp sát thành phố ở phía bắc, tây và tây nam, Phnom Penh sụp đổ và những sự phân công nhiệm vụ trong tình huống di tản khẩn cấp.
Sáng 16/4, một nhân viên bán quân sự của CIA có biệt danh Lew James đã bị quân giải phóng bắt giữ khi họ tràn vào thành phố biển Phan Rang. Thoạt tiên, có tin ở Sài Gòn rằng James hoặc đã trốn thoát hoặc đã bị giết chết và vụ bắt giữ anh ta đã không được loan báo trên đài. Khi thông tin về việc biến mất của James tới tai những đồng nghiệp của anh ta, Air America đã sử dụng các máy bay và trực thăng tiến hành một chiến dịch tìm cứu mạo hiểm trong hai ngày sau đó.
Các máy bay của Air America đã chà xát những tuyến đường dọc theo vùng bờ biển, nơi các đơn vị quân giải phóng đang nhộn nhịp di chuyển. Khi một chiếc máy bay Volpar sà xuống quá thấp trên một khu vực có quân đội đối phương, cánh máy bay đã dính một số phát đạn AK-47 từ dưới bắn lên. Viên phi công đã buộc phải cố gắng hạ cánh xuống một bãi biển cách nơi trúng đạn vài dặm và đội bay cùng với các nhân viên CIA trên máy bay sau đó đã được một máy bay Huey khác của Air America tới cứu thoát. Không có thương vong nhưng sau đấy, chiến dịch tìm cứu đã bị ngừng lại ngay ngay lập tức.
Lew James được đưa ra Hà Nội, nơi anh ta bị thẩm vấn và xác định rõ là nhân viên của CIA. Hơn sáu tháng sau ngày 30/4, anh ta được trả tự do.
Điều lạ lùng là trong giai đoạn đầu của chiến dịch di tản, những người đầu tiên được ra đi không phải là nhân viên địa phương làm việc cho sứ quán Mỹ, mà lại là những người làm việc cho các hãng thông tấn Mỹ.
Điều này rõ ràng nằm trong ý định của viên đại sứ Mỹ muốn lấy lòng giới truyền thông và giữ cho họ im lặng về việc ông ta tiếp tục khước từ ra lệnh tiến hành một chiến dịch di tản toàn diện. Trong mấy ngày sau đó, các chuyến bay của Air America đã di tản trót lọt hơn 600 người mà không hề có thông tin nào bị rò rỉ. Giai đoạn đưa những người làm trong ngành truyền thông khỏi Sài Gòn có lẽ là một trong những giai đoạn thành công nhất trong chiến dịch di tản do sứ quán Mỹ thực hiện.
Ngoài ra, cũng có một chuyến bay bí mật khác của Air America bay sang Thái Lan, mang theo gia đình của nhân viên kỹ thuật do CIA đào tạo và làm việc cho Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hoà. 143 người, hầu hết là phụ nữ và trẻ em, đã có mặt trên chuyến bay này. Có vẻ như trong giai đoạn đầu của chiến dịch, những người không thuộc diện "nhạy cảm" ra đi nhiều hơn những người thuộc diện này. Kể từ ngày 20/4, mỗi ngày có từ một đến hai chuyến bay mà hầu hết hành khách đều là bạn bè hoặc người quen của các nhân viên văn phòng tuỳ viên quân sự, những người nôn nóng muốn rời VN. Những chuyến bay đều đặn của Air America được thể hiện trong nhật ký của Fred Fine.
“Ngày 21/4: Hôm nay, Jim Voyles trên một chiếc Volpar bị bắn ở vùng ngoại ô Phan Rang. Phát tín hiệu cấp cứu. Tôi gọi một chiếc trực thăng nhưng rồi anh ta đã hạ cánh được ở Vũng Tàu. Càng tốt, thế là có cơ hội để đi tắm biển! 10h30’ sáng nay, máy bay C-130 và 7 chiếc Joly Green (loại máy bay lớn của không quân Mỹ) chuyển ra đảo Côn Sơn, hướng về phía đông bắc. Có cảm giác thanh thản. Hạm đội 7 đã có mặt trong vùng”.
Đêm 21/4, các máy bay C-46 và C-47 của Air America bắt đầu đưa các nhân viên một đài phát thanh tuyên truyền của CIA ra đảo Phú Quốc. Ngay trong nội bộ CIA, đài phát thanh tuyệt mật này cũng chỉ được gọi với mật danh “Nhà số 7” bởi phòng bá âm của nó đặt tại một ngôi nhà cũ nát ở số 7, Hồng Thập Tự, Sài Gòn. Máy bay đưa ra đảo cả thảy 144 nhân viên người Việt làm việc cho đài cùng với gia đình họ. Sau 4 ngày, các máy bay của Air America đã chuyên chở được hơn 1.000 người, sau đó họ được đưa tới Guam. Toàn bộ chiến dịch di tản nhân viên này chỉ là một nỗ lực của một sĩ quan CIA, người đã gạt sang một bên tất cả những trở ngại do thói quan liêu gây nên. Có lẽ anh ta làm vậy bởi rất có cảm tình với hai nữ phát thanh viên rất gợi tình của đài này, những người thường xuất hiện trên sóng phát thanh dưới tên gọi “Mẹ Việt Nam”.
“Ngày 23/4: Tình hình vô cùng căng thẳng. Một điều gì đó sắp xảy ra”, Fred Fine viết trong nhật ký. Điều đáng ngạc nhiên là các phi công của Air America vẫn tiếp tục ở lại. Quả thật, nhiều người trong số họ không nghĩ rằng Sài Gòn sẽ nhanh chóng sụp đổ và thậm chí còn cho rằng tình thế có thể biến chuyển ngược lại, thế nhưng, cũng có những người muốn chứng kiến mọi việc sẽ diễn ra như thế nào, muốn đi đến cùng của các sự kiện.
Toàn bộ các căn cứ của Air America ở Đông Nam Á bao gồm Viên Chăn (Lào), Udorn (Thái Lan), thậm chí cả ở Tachinawa (Nhật) đã đóng cửa. Giờ đây, Sài Gòn đang bị vây kín bởi 12 sư đoàn quân giải phóng và các phi công biết rõ điều đó.
“Điều nặng nề nhất trong những ngày cuối cùng ở Sài Gòn là chúng tôi biết rằng nó đang tan rã”, Wayne Lannin nói. “Bạn muốn rời đi và mặc kệ tất cả những gì đang diễn ra, bạn biết rõ rằng bạn có thể bị giết chết bất cứ lúc nào. Thế nhưng lòng tự ái cá nhân vẫn ngăn cản không cho phép bạn rời khỏi đấy”.
Chỉ còn các máy bay của lính thuỷ đánh bộ và không quân Mỹ tiếp tục thực hiện những đợt di tản cuối cùng. Những hoạt động này được thực hiện tốt hơn nhờ các phi công của Air America đã tạo lập và sơn sẵn các tín hiệu hạ cánh, hầu hết là trên các nóc nhà khi cần thiết. Những người này được đưa tới các điểm hạ cánh của lực lượng lính thuỷ đánh bộ và không quân, nơi các máy bay lớn hơn sẽ đưa họ đi tiếp.
Chỉ trong vòng một tuần, tỷ lệ đổi tiền đã từ 200 đồng/USD tăng lên thành 4.500 đồng/USD. Các nhân viên có kinh nghiệm của Air America, những người đã trải qua những hoàn cảnh tương tự, mang tiền USD của họ đổi lấy tiền đồng Nam Việt Nam, sau đó tới khu buôn bán của thành phố mua vàng hoặc nữ trang. Công việc mua bán trong thành phố vẫn diễn ra như thường lệ.
Nhưng đó lại là thời kỳ khó khăn đối với gái làm tiền. Các đơn vị lính Mỹ rút đi đã để lại một số lượng lớn gái mại dâm. Một phi công của Air America có thể đi chơi đêm và với tỷ giá đổi tiền trên thị trường chợ đen như vậy, anh ta có được một cô gái đẹp chỉ với 66 cent nếu như đi “tàu nhanh” và 1,11 USD nếu qua đêm. “Chỉ với 10 USD, anh ta có thể chết trong hoan lạc!”
Các phi công của Air America có tiếng đến nỗi họ được coi như có hẳn một được dây để đưa người thoát ra khỏi Việt Nam. “Ngày nào cũng có người tới nhà, hầu hết đều là những người lạ hoắc, nhờ vả đưa họ ra đi”, một phi công kể lại. Một số người Mỹ đã tìm ra cách đưa những người Việt Nam vào diện di tản và một vài viên phi công của Air America đã kiếm bộn tiền.
Khi ấy, có rất nhiều người Việt Nam giàu có muốn trả những khoản tiền lớn chỉ để ra đi ngay.
“Một số phi công của Air America đã đăng ký cho ba chục, bốn chục thậm chí năm chục người ra đi chủ yếu vì tiền”, Mel Cooper, một phi công lái trực thăng cho Air America nói. “Để đảm bảo như vậy, các phi công phải ký vào một bản cam đoan chịu trách nhiệm về mặt phúc lợi xã hội cho những người này ở Mỹ và rằng những người này sẽ không tìm kiếm khoản trợ cấp khi họ đến Mỹ. Các phi công đã ký vào những bản cam đoan để kiếm tiền bởi họ nghĩ rằng sẽ không bao giờ phải chịu trách nhiệm về chuyện đó. Tôi cho rằng những bản cam đoan đó được giữ lại ở sứ quán Mỹ và không bao giờ ra khỏi Việt Nam.
Sự sụp đổ của Sài Gòn chỉ còn được tính từng ngày. Một thành viên của ICCS (Ủy ban Kiểm tra và giám sát bốn bên hiệp định Paris) nói rằng cuộc tiến công sẽ diễn ra trong vòng vài giờ nữa.
"Lúc 9h30, Reed Chase tới, nói anh ta nghe có tin rằng tướng Giáp đã bị ám sát, và rằng các đơn vị quân đội giải phóng nay đã ở Bắc Việt. Nếu đúng như vậy thì đây là tin tức tốt đẹp nhất vào lúc này", Fred Fine viết trong nhật ký. "Trong thành phố, không ai có thể ngủ yên lành, nếu như quả thật có ai đó có thể ngủ. Tốt nhất là hãy ở phi trường, nhưng lại không kiếm được giường nằm... Tàu có mặt khắp nơi ngoài bờ biển Vũng Tàu. Bốn chiếc lớn cùng với các tàu hộ tống".
"Ngày 24/4: Cứ tưởng quân giải phóng tấn công vào lúc 6 giờ sáng, nhưng điều đó không xảy ra. Lại nghe tin người bị bắn là tướng Trường Chinh (ở đây người viết nhật ký nhầm lẫn về chức vụ) chứ không phải là tướng Giáp", Fred Fine viết. "Người Mỹ bắt đầu vạch các ký hiệu hạ cánh cho máy bay trực thăng tại phi trường. Họ di chuyển rất nhiều công trình xây dựng, ủi đổ nhà, dọn dẹp những khu vực bẩn thỉu, chặt cây cối và các cột điện thoại... Hàng trong PX (cửa hàng của quân đội Mỹ) chỉ bán nửa giá, thậm chí còn rẻ hơn. Không có bia Mỹ để bán, một thảm họa! Cả rượu vang và rượu mạnh cũng vậy".
"Ngày 25/4: Nghe nói nhiều thành phố ở Nam Việt Nam bị ném bom từ mấy hôm rồi. Sáng nay, hàng trăm dân di tản Việt Nam vây quanh cổng chính sân bay. Từ tuần trước, ở đây đã như vậy. Trong suốt 6 ngày qua, trên sóng FM 99,9 Hz của đài Sài Gòn không hề có tin tức nào. Rất dễ bực tức. Vả lại, không biết liệu chúng tôi có thoát khỏi Nam Việt Nam an toàn hay không. Khi bay, chúng tôi luôn bị đe dọa bởi tên lửa phòng không SA-7 "Strella" và có rất nhiều vị trí mới, không được chỉ dẫn mà phi công của Air America phải bay. Đã thấy xuất hiện cả súng 57 mm ở cách sân bay có 8 dặm. Thật tuyệt! Có thể còn có nhiều đơn vị khác hiện ở quanh Sài Gòn. Trong nhiều tuần, hầu hết chúng tôi đã sống du mục với một cái túi xách của hàng không luôn bên mình. Tất cả mọi tài sản đã được gửi đi, vứt đi hoặc trong chiếc va-li ở sân bay. Nghe nói có tàn sát ở Phnom Penh, chặt đầu công khai. Có thêm cái để mà nghĩ".
"27/4: Căng thẳng. Rất nhiều tin đồn. Rằng phi trường Tân Sơn Nhất sẽ bị đóng cửa và chúng tôi không thể bay ra ngoài được. Rằng 200 cảnh sát ở Ban Mê Thuột bị bắn...".
Sau ba năm rưỡi, ba quả rocket đầu tiên đã bắn vào Sài Gòn. Quá nửa đêm, lại thêm bốn quả nữa. Quân giải phóng đã tiến công mạn bắc Sài Gòn, ở khu vực Tân Cảng, ném bom Tân Sơn Nhất và bắt đầu bắn phá các căn cứ không quân, coi đó là dấu hiệu mở đầu cho cuộc tiến công cuối cùng.
"Sang ngày 28/4, phi trường phải chịu sự không kích nặng nề. 18h00: một phi đội gồm 5 chiếc phản lực A-37 (do quân giải phóng chiếm được của quân Việt Nam Cộng hoà) trang bị loại bom MK 81 đã không kích khu vực đường băng của sân bay Tân Sơn Nhất", báo cáo của cơ quan Bộ Quốc phòng Mỹ DAO sau cuộc tấn công cho biết. "Sáu quả đã rơi trúng khu vực đỗ máy bay của không quân Sài Gòn, phá hủy nhiều chiếc, trong đó có ít nhất 3 chiếc AC-119 và vài chiếc C-41. Hai quả bom khác rơi trúng khu vực nằm giữa Trung tâm Chỉ huy và đài kiểm soát. Không có máy bay nào của không quân Mỹ bị hư hại".
Fred Fine ghi nhận: "Ngày 28/4, 6 giờ 20 phút chiều, lấy xe của Reed Chase. Bỏ cái túi xách hàng không lại phòng ở rồi lái xe tới phi trường. Khi cách cổng phi trường khoảng 100 yards (khoảng 90 mét), tôi nghe thấy 6 tiếng nổ lớn của loại bom 500 pound. Những chiếc A-37 của không quân Việt Nam Cộng hoà trong tay quân giải phóng. Ba người Mỹ trên chiếc xe chạy đằng trước bỗng nhào ra khỏi xe với vẻ hoảng sợ, bò lổm ngổm trên vỉa hè về phía sau đuôi xe của họ".
"Tôi lái xe tới gần và hỏi xem chuyện gì đã xảy ra. Họ nói cái gì đó tôi không hiểu được. Tôi hỏi lại và một người trong bọn hét lên: 'Có tiếng súng bộ binh'. Tôi không nghe thấy gì hết. Cả đại úy John Fenburg đi cùng tôi cũng vậy. Những người lính quân cảnh ở Sài Gòn chạy tới và nói bọn tôi nên rời khỏi đấy. Một chỉ dẫn thật thông minh, tôi nói. Tôi lái xe qua thảm cỏ phân cách sang bên đường ngược chiều rồi quay đầu xe về thành phố. Cả hai chúng tôi đều nghi ngờ về chuyện có tiếng súng bộ binh và quân giải phóng đã có mặt tại khu vực này của thành phố. Đến nửa đường về thành phố, xe của tôi sa vào một đám tắc đường. Rất nhiều xe quay đầu 180 độ và phóng ngược ra phi trường. Điều đó cho thấy hoặc là vụ tắc nghẽn giao thông này rất khủng khiếp, hoặc là đã có những hoạt động quân sự trong thành phố".
"Ngay trước khi sa vào đám tắc đường, có thể nghe thấy hàng loạt tiếng nổ và trông thấy những loạt đạn súng phòng không nhằm vào hai chiếc A-37. Những loạt đạn này không trúng mục tiêu. Không muốn rúc vào đám tắc đường lâu hơn hoặc sa vào những cuộc đụng độ, tôi quay đầu xe một lần nữa và trở lại 249, khu nhà của Cơ quan Viện trợ Mỹ USAID, nơi có khoảng 40 phi công và nhân viên giám sát của Air America. Đó là một tòa nhà 7 tầng nằm cách phi trường khoảng 1 km. Tôi lên sân thượng và có thể quan sát thấy rất nhiều đám cháy cũng như khói đen kịt bốc lên từ phía sân bay". "Lệnh giới nghiêm lúc 24 giờ đã khiến cho người dồn cục lại ở 259. Quả là sáng suốt khi để cái túi xách hàng không với hộ chiếu, sổ ghi séc, tiền và các vật dụng giá trị khác ở lại 87 Nguyễn Đình Chiểu. Tìm được một chiếc giường để ngủ chung cùng đại úy Fred Stiklel và các phi công lái trực thăng khác. Gặp tướng Dương Trọng Phương. 7 giờ 30 tối. Một vụ nổ khủng khiếp cách khoảng 10-15 dặm về phía đông bắc. Có thể là khu kho Long Bình. Nổ thế mới là nổ chứ! Đơn vị 112 của chúng tôi di chuyển. Đứng trên sân thượng có thể quan sát thấy khá rõ rất nhiều vụ nổ khác trong đêm. Tất cả các phi công của Air America vẫn bị mắc lại tại chỗ. Một số ở ngoài sân bay"...
Hầu như không thể biết được điều gì đang diễn ra. Các phi công Air America chỉ còn cách trông chờ vào việc nghe đài BBC để cố gắng hình dung điều gì đang xảy ra ở cái thành phố mà họ bị mắc kẹt lại này.
"Nếu bạn nghe đài của quân đội, bạn sẽ chẳng bao giờ biết được điều gì đang xảy ra ở Việt Nam bởi toàn tin thời tiết, bầu cử và có cả tin một vụ tai nạn ô tô nữa", Art Kenyon kể. "Trong khi ấy, BBC cung cấp cho chúng tôi những tin tức thời sự. Một vài điều khá nghiệt ngã nghe được trên BBC chúng tôi biết là sự thật bởi chính mắt tôi đã từng chứng kiến, còn những điều khác thì chúng tôi cũng nghĩ là chúng chân thực".
Kenyon muốn giữ riêng căn hộ của anh ta trong tòa nhà của Cơ quan viện trợ Mỹ USAID, nhưng rồi đêm 28/4, anh ta đột nhiên đổi ý, mời các phi công khác vào ở chung trong căn hộ 3 buồng ngủ có đầy đủ đồ đạc tiện nghi nhưng hầu như không còn được ngó ngàng gì tới nữa. Họ uống vài ly rượu, nghe chương trình hải ngoại của đài BBC trước khi đi ngủ. "Tôi không thể nhớ chính xác là đã nghe tin gì nhưng chắc chắn đó toàn là những tin tồi tệ", Kenyon nói.
Toàn thành phố bị đánh thức vào lúc 4 giờ sáng hôm sau bởi tiếng gầm rú của hàng loạt tiếng nổ liên tiếp. Wayne Lannin hét lên với người bạn cùng phòng Izzie Freedman: "Izzie, chắc họ sắp tấn công rồi".
"Không, không, đấy chỉ là tiếng sấm thôi", Freedman trả lời vẻ ngái ngủ. Lannin leo lên sân thượng và trông thấy những vụ nổ ở ngoài phi trường. "Ý nghĩ đầu tiên của tôi là: 'Ôi trời ơi, họ đã đánh trúng các máy bay' và như vậy chúng tôi không thể nào thoát ra khỏi thành phố được nữa", Lannin kể. "Khi ấy, bạn cảm thấy bản thân hụt hẫng và tôi cảm thấy một nỗi khiếp sợ chưa từng thấy. Nếu như có một chiếc trực thăng, bạn luôn có cảm giác là bạn sẽ thoát được ra khỏi đó. Bạn không biết những người khác ra sao nhưng chắc chắn có một cỗ máy sẽ đưa bạn thoát đi. Nếu phá hủy những cỗ máy đó thì tôi hoàn toàn không còn gì để bấu víu vào nữa".
Trong khi đó, Art Kenyon bị đánh thức bởi người bạn cùng phòng đập cửa với tiếng hét: "Lên sân thượng mau lên".
Kenyon lên sân thượng tòa nhà Cơ quan viện trợ Mỹ USAID và nhìn thấy những đám cháy ở ngoài phi trường. "Trông giống như một đường chân trời bằng lửa vậy”, Kenyon nói. "Hỏa tiễn vẫn tiếp tục bắn vào, những tiếng nổ liên miên không dứt và chúng tôi có thể trông thấy phần đuôi một chiếc C-46 của Air America chổng ngược lên trời trong ánh sáng bập bùng của một chiếc C-130 cháy gần đó trên đường băng cũ hướng Bắc-Nam".
"Một chiếc C-119 của không quân Nam Việt Nam trang bị những khẩu súng Gatling đang bay vòng vòng trên khu vực phía bắc của phi trường vãi đạn xuống. Phải tận mắt nhìn thấy cái cảnh tượng ấy trong đêm, bạn mới có thể thấy nó khủng khiếp đến mức nào. Giống như có một cái lưới bằng lửa đang chụp xuống mặt đất, với những đường đạn nối nhau không dứt như cái máy bay đó nối với mặt đất bằng một tấm màn bằng lửa vậy. Tôi đã đứng đó, nhìn thấy chiến tranh diễn ra ngay trước mặt, với một ly bia trong tay. Tôi quay xuống phòng mình để lấy một ly bia khác và khi quay lên thì chiếc C-119 đã bị bắn rơi. Nó đã bị một quả tên lửa đất đối không do Mỹ chế tạo bắn trúng".
Các phi công của Air America tụ tập trên sân thượng, như thể là họ đang tham dự một bữa tiệc cocktail và họ đã cùng nhau chứng kiến cuộc chiến tranh diễn ra trong suốt buổi sáng hôm ấy.
Ai đó bê ra một cái bàn và bắt đầu bày lên đó mấy chai rượu. Những người làm việc cho sứ quán Mỹ hoặc CIA đã có tên trong danh sách sắp sửa ra đi rất vui lòng để lại cho các phi công phải ở lại gia tài rượu của họ. Chẳng mấy chốc, cái bàn dài đã oằn mình dưới sức nặng của hàng đống những chai Courvoisier hay Jack Daniel. Một tiệc rượu Thánh cuối cùng.
"Sau cùng thì mọi việc có vẻ cũng không đến nỗi tồi tệ lắm", Lannin nói. "Tôi đi xuống dưới và cố gắng ngủ nhưng quả thật là khó có thể ngủ được trong tiếng pháo kích như thế".
Hầu hết các phi công quyết định ở lại trên sân thượng. Kenyon có một máy bộ đàm và thường xuyên liên lạc với phi trường. Một nhân viên kiểm soát không lưu mệt mỏi gặp khó khăn trong việc cho các phi đội máy bay cất cánh. Chỉ có hai phi công Air America trực ở sân bay khi cuộc pháo kích bắt đầu và tình hình ở đó cực kỳ hỗn loạn. Thùng nhiên liệu máy bay, bom chưa lắp, các trang thiết bị la liệt ở khắp nơi, trong khi các trực thăng của không quân Nam Việt Nam hỏng hóc đỗ đầy trên đường băng. Một chiếc phản lực F-5 bị để lại trên đường dẫn ngay phía trước một cái cầu thang di động dùng để lên máy bay mà động cơ của nó vẫn còn đang hoạt động. Các phi công bị kẹt lại tại tòa nhà USAID được thông báo rằng cứ ở lại đó chờ cho tới khi có thể tổ chức được các trực thăng tới để bốc họ đi.
Mãi tới 8 giờ rưỡi sáng 29/4, bộ phận thực hiện chiến dịch mới thực hiện việc đưa các phi công ra khỏi sân thượng của tòa nhà. Kế hoạch sử dụng các máy bay của Air America để di tản ban đầu định chia làm hai phần liên tiếp nhau, với việc các xe ô tô sẽ tới những địa điểm ở trong khu trung tâm thành phố đón người đưa tới phi trường. Song do một số lượng lớn các phi công bị kẹt lại ở trụ sở USAID nên khi các ô tô bắt đầu hành trình thì mới có rất ít trực thăng có thể cất cánh được. Hơn nữa, một số thang di động lên xuống m?