Sidebar

  • TRANG CHÍNH
  • LƯỢC SỬ TÓM TẮT
  • CHUYÊN ĐỀ
  • CỔ SỬ
  • THƯ VIỆN
  • ẢNH LỊCH SỬ
Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history Lịch Sử Việt Nam - VIetnam history
  • TRANG CHÍNH
  • LƯỢC SỬ TÓM TẮT
  • CHUYÊN ĐỀ
    • Nhân vật
    • Sự kiện
    • Hiện vật
    • Di tích
    • Hồi ký
  • CỔ SỬ
    • Đại Việt sử ký toàn thư
    • Huyền sử, dã sử
  • THƯ VIỆN
  • ẢNH LỊCH SỬ
    • Việt Nam triều Nguyễn

Đánh chiếm Dinh Độc Lập

Đánh chiếm Dinh Độc Lập

Nguời thảo văn kiện đầu hàng

Details
Đánh chiếm Dinh Độc Lập
30 April 2007
Hits: 6383

Trong phần tường thuật dưới đây, nhà báo chuyên nghiệp Borries Gallasch đã trả lời một cách chắc chắn về vấn đề gây tranh cãi hàng chục năm qua: người đã thảo lời tuyên bố đầu hàng cho tổng thống Dương Văn Minh.

Thảo văn kiện

Chúng tôi đi vào phòng thu nhỏ trên lầu một. Những kỹ thuật viên đã lấy chân dung của Thiệu từ trên tường xuống và ném qua cửa sổ ra sân. Chúng tôi ngồi bất động một lát. Ông Mẫu quạt mặt mình bằng một quyển sách. Tổng thống Dương Văn Minh và chính ủy xe tăng Bùi Văn Tùng ngồi trên hai chiếc ghế và tôi ngồi giữa họ tại một chiếc bàn nhỏ. Ông Tùng thảo văn kiện đầu hàng trên một mảnh giấy màu xanh.Sau một vài phút, ông Dương Văn Minh, ông Vũ Văn Mẫu và ông Bùi Văn Tùng rời khỏi phòng, theo sau là những người đã có mặt tại đây để sang đài phát thanh. Chúng tôi bước xuống cầu thang ra bãi cỏ, đến ngang chỗ vòi phun nước, tổng thống Dương Văn Minh và thủ tướng Vũ Văn Mẫu leo lên một chiếc xe jeep được bảo vệ bởi hai chiến sĩ giải phóng (đại úy Phạm Xuân Thệ đi xe này - TS). Chính ủy Bùi Văn Tùng và một người lính khác lên chiếc xe thứ hai. Tôi đang đứng ngay cạnh chiếc xe jeep nói chuyện với ông chính ủy bằng tiếng Pháp, cố gắng xin ông ta để được lên xe. Ông gật đầu đồng ý. Luật sư Đỉnh với bộ râu dài cũng leo lên chiếc xe jeep này và chúng tôi lái đi. Chỉ có hai chiếc xe này của chúng tôi chạy giữa thành phố lúc ấy - một thành phố đã từng sôi sục mà nay sự sợ hãi bỗng nhiên được làm dịu đi - qua tòa đại sứ Mỹ trống hoác, đến đài phát thanh nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Ông Mẫu trông có vẻ hài lòng. Ông tỏ ra như thể chiến thắng này là chiến thắng của ông. Người thành lập và phát ngôn cho lực lượng thứ ba, mà mới tuần trước đã giải thích cho tôi tại sao nhóm trung lập của ông ấy sẽ là một nhân tố cần thiết cho bất cứ một tương lai chính trị nào ở Nam VN, nay tuyên bố rằng: “Không còn lực lượng thứ nhất nữa nên chúng ta không còn cần đến lực lượng thứ ba, hòa giải dân tộc diễn ra sớm hơn dự định. Bây giờ dù muốn hay không chúng ta cùng làm việc cho nhân dân ta”. “Không phân biệt chính kiến?”. “Đúng, chúng ta có khác nhau về quan điểm nhưng những điểm khác nhau đó chỉ hướng chúng ta đi đến một mục đích chung”.

Chính ủy Tùng đã rất khó viết. Ông ngồi bất động trong khi thảo ra được một vài từ rồi đến từ nữa, rồi lại thay thế bằng những từ khác. Sau 30 năm chiến đấu cho một mục đích, thật là khó để biết phải viết như thế nào.

Trong lúc đấy mọi người dường như đang thư giãn và giảm phấn khích hơn so với một giờ trước. Đại úy Phạm Xuân Thệ, người đã bắt ông Minh trong dinh, vẫn còn lăm lăm khẩu súng trong tay. Ông ta nhắc đi nhắc lại với ông Minh về việc đầu hàng trên đài.

Thời khắc lịch sử


Bùi Tùng và nhà báo Tây Đức, Borries Gallasch, tại dinh Độc Lập ngày 30/04/1975

Đại tướng Dương Văn Minh im lặng. Dưới chiếc mũ cối, những người lính bộ đội nhìn ông Minh với vẻ tò mò. Họ vây quanh ông ta trong lúc phía bên ngoài vẫn còn nghe những tiếng nổ. Những người lính giải phóng đã thể hiện sự vui mừng không kìm nén được. Cuối cùng ông Minh đã lên tiếng, hỏi một người lính: “Em trai của tôi hiện nay ra sao? Khi nào tôi có thể gặp chú ấy?”. Đó là số mệnh của những người dân VN: người em của tổng thống là một tướng lĩnh trong quân đội miền Bắc VN và trong 20 năm anh em ruột thịt ở hai bên chiến tuyến (Tuổi Trẻ sẽ trở lại câu chuyện này trong một hồ sơ sắp tới).

Đại úy Thệ im lặng. Tất cả mọi người bỗng nhiên im lặng. Rồi một vài người lính giải phóng nói chuyện với tôi bằng tiếng… Nga. Họ trông thấy phù hiệu “Báo chí Đức” trên áo sơmi của tôi và tưởng tôi là nhà báo Đông Đức. Họ đã nói chuyện với tôi về Các Mác. Bạn tôi là Hà Huy Đỉnh đã giải thích cho họ rằng tôi là nhà báo Tây Đức. Mặt họ sầm xuống, tỏ ra nghi ngờ và e dè hơn.

Cuối cùng mọi người đã sẵn sàng, nhưng không ai trong số người này biết sử dụng máy ghi âm. Chính ủy Tùng hướng dẫn rất rõ ràng cho tôi những việc tôi phải làm: ông Minh cần phải đọc lại bản tuyên bố vào máy ghi âm của tôi, việc này được lặp đi lặp lại ba lần. Lần đầu tiên ông Minh chần chừ vì được yêu cầu phải đọc là: “Tôi, Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn”, nhưng ông ấy chỉ muốn nói: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh...”. Họ tranh luận qua lại và cuối cùng đi đến thỏa thuận: không nhượng bộ ông Minh. Ông Minh phải nói: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống của chính quyền Sài Gòn”. Nhưng ông Minh không đọc được bản viết tay của chính ủy Tùng và nói sai nhiều lần. Tất cả mọi thứ lại phải được đọc lại từ đầu. Cuối cùng đã xong. Ông Minh kết thúc âm giọng chính xác: “...miền Nam Việt Nam”.

Tôi cũng ghi âm lời phát biểu của ông Mẫu và ông chính ủy Tùng rồi chúng tôi đi vào phòng thu thanh. Tôi ngồi ngay trước micro và bật băng của ba bài phát biểu. Ông Minh ngồi bên tay trái tôi. Chính ủy Tùng, ông Mẫu đứng đằng sau chúng tôi. Kỹ thuật viên ngồi phía bên kia của kính ngăn yêu cầu bật máy lại, lần này để máy lại gần micro hơn và không quá to. Lúc này mọi sự đều tốt đẹp. Chính ủy Bùi Văn Tùng đã nói những gì với tôi mà tôi không hiểu. Hà Huy Đỉnh dịch lại. Tôi đã được ông cảm ơn về sự giúp đỡ của tôi và cho phép tôi chở ông về lại dinh Độc Lập trên chiếc xe jeep. Chúng tôi rời khỏi tòa nhà. Tôi ngồi sau tay lái và ông chính ủy ngồi ghế bên.

Tôi không thể nổ máy chiếc xe. Lúc ấy ông chính ủy trở nên sốt ruột và chúng tôi đã đi sang một chiếc xe khác, nơi tôi lại ngồi băng ghế sau. Chúng tôi lại đi qua những con đường của VN. Lúc ấy khoảng 2g chiều, những người lính của Mặt trận Giải phóng đã đứng gác tại tất cả các ngã tư và trên những con đường đã rất đông người. Chúng tôi đã đi mà không có bảo vệ. Sài Gòn đã chắc chắn ở trong tay của chính quyền cách mạng, không gặp sự kháng cự nào.

Tại dinh Độc Lập, tôi nhảy ra khỏi xe. Trên khuôn mặt bình thản của chính ủy Bùi Văn Tùng giấu một nụ cười. Rồi ông nói với tôi bằng một câu tiếng Đức mà ông biết: “Danke” (cảm ơn).

Hai ngày sau, ông Minh được tự do trở về nhà với vườn hoa phong lan của mình.

 

BORRIES GALLASCH (Nam Hải - Tiến Long dịch)
Theo Tuổi Trẻ

Người châu Âu duy nhất trong dinh Độc Lập

Details
Đánh chiếm Dinh Độc Lập
30 April 2007
Hits: 5892

Borries Gallasch vào tháng 4-1975 là phóng viên của báo Tấm Gương (Đức), thường trú tại miền Nam VN.

Sáng 30-4-1975, mặc dù “sợ đến run cả hai đầu gối”, Borries Gallasch vẫn tìm cách “lọt” vào bên trong dinh Độc Lập, và sau đó trở thành phóng viên nước ngoài duy nhất chứng kiến thời khắc lịch sử ở Đài phát thanh Sài Gòn.

Dưới đây là tường thuật của ông, với tư cách một nhà báo. Nó được viết cách đây 32 năm và được in trong cuốn Ho - Tschi - Minh Stadt. Vì cuốn sách được viết từ năm 1975, nên không thể tìm thấy trong các hiệu sách ở Đức. Nhờ nỗ lực của nhà quay phim Đặng Việt Tùng, bản sách duy nhất của Borries Gallasch đã được gửi về VN vào giữa năm 2006.

“Lọt” vào nơi chuyện quan trọng sẽ xảy ra

Đúng 7 giờ sáng, những chiếc máy bay trực thăng cuối cùng của không lực Hoa Kỳ rời khỏi Sài Gòn. Đến 12g trưa, những lá cờ của Mặt trận Giải phóng tung bay trên nóc dinh Độc Lập.

Dietrich Mummendey cùng tôi đã trụ lại qua đêm tại Hội Chữ thập đỏ nằm trên đường Hồng Thập Tự. Vào khoảng 8 giờ sáng, chúng tôi đi đến khách sạn Caravelle nơi tập trung hầu hết phóng viên thông tấn nước ngoài còn ở lại. Đầu tiên là người Pháp, người Nhật, một vài người Anh, Ý và cả chúng tôi. Mummendey và tôi không thể nán lại lâu hơn nên đã đi đến văn phòng của Hãng Reuters, nằm cách khách sạn khoảng 2km.

Mặc dù sợ đến run cả hai đầu gối, nhưng sau đó tôi vẫn đi bộ đến dinh Độc Lập vào lúc 11g sáng hôm ấy. Tôi đứng một mình trước dinh mà giờ đây yên lặng như một viện bảo tàng và ngổn ngang những mũ sắt, quân phục, súng ống, thậm chí cả lựu đạn và một khẩu súng chống tăng, súng máy ngay tại bãi cỏ.

Không có một bóng người nào ở đó. Những tiếng nổ từ phía kho đạn của sân bay Tân Sơn Nhất vẫn còn vọng lại. Tôi bước qua cánh cổng sắt mở hé. Một thiếu tá bước sát ngay bên cạnh tôi, nhưng làm như có vẻ không nhìn thấy tôi. Tôi băng ngang qua bãi cỏ và nghĩ rằng có thể bị ai đó bắn bất cứ lúc nào. Ngay bên những bậc thang dẫn đến lối vào chính có những người lính đang cãi vã. Một chiếc Limousine đen, bên trong là ông Nguyễn Văn Huyền, phó tổng thống của một chính thể không còn nữa, nói với tôi: “Chúng tôi đang chờ phái đoàn của Mặt trận Giải phóng vào dinh, anh có thể đợi nếu anh muốn”. Những người lính của đội cận vệ tổng thống thậm chí đã không thèm chào khi một nhân vật quan trọng thứ hai của quốc gia được chở ra bằng cổng sau.

Tôi hít một hơi thật sâu rồi bước tiếp lên những bậc tam cấp đi vào cửa chính qua tiền sảnh rồi đi lên lầu một. Tại đây tôi gặp Hà Huy Đỉnh - một luật sư Sài Gòn người nhỏ bé và cũng là học trò của thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Hà Huy Đỉnh, người mà chỉ vừa mới đi lên từ tầng hầm đã có cùng ý nghĩ như tôi: đi đến một chỗ mà nếu có chuyện gì quan trọng xảy ra thì sẽ xảy ra ở đấy.

Một cảnh ngoạn mục

Trong khoảnh khắc ấy, khi chúng tôi còn đang đứng ở giữa sảnh thì cửa thang máy bật mở, bước ra là tổng thống Minh “lớn”, thủ tướng Vũ Văn Mẫu và một vài người thân cận từ dưới hầm trú ẩn đi lên. Ông Minh “lớn” (Big Minh) nói: “Thật là tốt khi anh có mặt ở đây, anh sẽ chứng kiến sự chuyển đổi vận mệnh của đất nước tôi vào tay những người xứng đáng hơn tôi”.

Trong lúc những nhân viên của tổng thống Dương Văn Minh đi đi lại lại đầy lo âu, thì ông vẫn đứng im lặng giữa sảnh và phóng tia mắt nhìn qua cửa sổ phía trước của dinh về hướng nhà thờ Đức Bà. Bỗng nhiên những tiếng nổ inh tai của súng máy vang lên. Tôi nằm rạp xuống sàn tìm kiếm sự che chắn đằng sau cột ximăng. Phút cuối cùng của sự nổi dậy, một cuộc đánh chiếm dinh?!

Không có tấm kính nào bị vỡ, chúng tôi rời khỏi chỗ nấp. Minh “lớn” vẫn đứng nguyên chỗ cũ, to lớn như một bức tượng bên cạnh ông thủ tướng thấp bé. Rồi trước mắt chúng tôi xuất hiện cảnh tượng không thể tin được: ba chiếc xe tăng treo những lá cờ của Mặt trận Giải phóng tiến qua cổng sắt hướng về phía bồn hoa trước dinh. Súng bắn loạn xạ lên không trung, những phát súng của niềm vui, dàn giao hưởng của chiến thắng, giai điệu của vinh quang. Chiếc tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng, lăn xích thẳng trên bãi cỏ nhằm hướng dinh lao tới. Hai chiếc tăng còn lại vòng sang hai bên và rồi tất cả đều dừng lại trước mặt tiền của dinh. Khoảng 20-30 phát súng khác được bắn lên.

Tôi chạy ra ban công chụp ảnh. Tôi và Hà Huy Đỉnh thay phiên nhau. Thật là một cảnh ngoạn mục. Và rồi một người lính giải phóng với khẩu súng bên tay trái và một lá cờ bên tay phải xông lên cầu thang suýt xô ngã tôi. Hai chiến sĩ giải phóng khác chiếm lấy vị trí bên phải và bên trái của cầu thang. Đầu tiên không ai nhận thấy Minh “lớn” và những người khác đang chờ họ ở phía bên kia của phòng tiếp khách.

Một người lính đứng ngay trước mặt tôi. Anh ta hét vào tôi, hét đi hét lại điều gì đó mà tôi không hiểu. Hà Huy Đỉnh hét giải thích cho tôi là mở cửa ra ban công. Tôi mở cánh cửa kính ra vào. Anh ta lướt qua tôi, kéo cờ lên và vẫy đi vẫy lại.

Ở phía dưới nhiều chiếc xe tăng tiếp tục tiến vào và tất cả đều bắn lên không trung. Một vài nhà báo chạy vào qua bãi cỏ.

Khoảng 30 binh sĩ của chế độ Sài Gòn đứng giơ tay đầu hàng và xếp thành ba hàng trên bãi cỏ.

Là một người châu Âu duy nhất, là một nhà báo duy nhất, tôi chứng kiến đại tướng Minh “lớn” - tổng thống của VN cộng hòa, đã bị bắt bởi Phạm Xuân Thệ, chỉ huy của đoàn Đông Sơn thuộc quân đội giải phóng. Tay cầm súng ngắn đã lên đạn, một khẩu K54 của Nga, Thệ rất phấn khích la lớn yêu cầu ông Minh ra đài phát thanh.

Nhưng tướng Minh không muốn đi. Ông ta đề nghị rằng bài nói của ông phải được thu âm vào máy thu ở trong dinh. Họ tranh luận việc đó. Càng lúc càng nhiều người lính giải phóng chạy vào. Rồi họ bắt đầu tìm máy thu nhưng không có kết quả. Không có một cái máy ghi âm nào trong dinh cả.

Sự hoang mang chấm dứt khi người chỉ huy của quân giải phóng, chính ủy Bùi Văn Tùng xuất hiện. Ngay lúc đó, một nhóm đông người tập trung lại và được đưa vào phòng tiếp khách của tầng thứ nhất.

BORRIES GALLASCH (Nam Hải - Tiến Long dịch)
Theo Tuổi Trẻ

Gặp người áp giải Tổng thống ngụy

Details
Đánh chiếm Dinh Độc Lập
06 September 2006
Hits: 7669

Anh là Nguyễn Huy Hoàng - người Chiến sĩ giải phóng quân 23 tuổi đã tham gia áp giải tướng ngụy Dương Văn Minh đến đài phát thanh đọc lời đầu hàng quân giải phóng.

Anh ngạc nhiên: Sao lại tìm được tôi ? Bao nhiêu năm qua hầu như anh không xuất hiện trước thông tin đại chúng…

Anh Nguyễn Huy Hoàng bồi hồi nhớ lại: Chính tôi cũng bất ngờ khi được tham gia vào sự kiện trọng đại ấy.

Chiếc xe tăng thứ nhất húc đổ cổng Dinh Độc lập tiến vào mở đường, chiếc xe tăng thứ hai trên đó có anh Thận - người cắm cờ trên nóc dinh. Và xe thứ ba, là xe Jeep của chúng tôi. Trên xe có 5 người. Tôi là người đi cùng chỉ huy Phạm Xuân Thệ –Trung đoàn phó Trung đoàn 66 - với nhiệm vụ là “chiến sĩ truyền đạt” đồng thời bảo vệ chỉ huy. Năm ấy tôi rất trẻ và cũng mới nhập ngũ được 3 năm.

Xin anh kể lại lúc giáp mặt Dương Văn Minh?

Anh Nguyễn Huy Hoàng (N.H.H): Phó trung đoàn trưởng Phạm Xuân Thệ đi thẳng vào phòng có Dương Văn Minh. Theo nhiệm vụ của mình tôi đi sát bên chỉ huy.

Tôi còn nhớ, khi chúng tôi bước vào Dương Văn Minh nói: Thưa các ông, tôi chờ quân giải phóng đến để bàn giao chính quyền. Anh Thệ đã nói rõ ràng: “Các ông không có gì để bàn giao đâu. Chỉ có đầu hàng quân giải phóng”. Dương Văn Minh cúi đầu, ấn tượng của tôi là Dương Văn Minh luôn cúi đầu. Đó là tư thế của người thất bại và lo sợ.

Suốt một quá trình tiếp xúc dẫn giải như thế, ông ta vẫn luôn sợ quân giải phóng hay còn sợ gì khác?

Anh N.H.H: Ông ta sợ quân giải phóng, cái sợ đối với những người chiến thắng nhưng ông ta còn hoảng sợ vì lo các phe phái đối kháng trong chính phía ông ta sẽ sát hại ông ta.

Chính vì hiểu điều này nên chỉ huy của quân ta có trấn an Dương Văn Minh có thể yên tâm vì hiện tại quân giải phóng đã hoàn toàn làm chủ tình thế. Không có ai có thể làm hại ông ta.

Sau chiến thắng 30.4, anh nhận nhiệm vụ gì và xuất ngũ năm nào?

Anh N.H.H: Tôi còn vào Tây Nguyên truy kích tàn quân Phun- rô và công tác trong đó một năm nữa, năm 1976 thì tôi xuất ngũ. Trước khi đi đánh giặc năm 1972 tôi cùng một lúc nhận được giấy báo nhập ngũ và giấy báo trúng tuyển Đại học Kiến trúc.

Cũng giống như nhiều người sống trong thời kỳ ấy, tôi chọn đi bộ đội và mong ước ngày hoà bình sẽ về giảng đường đại học. Chúng tôi gọi đó là tinh thần Lê Mã Lương. Tôi trở về Hà Nội để theo học trường Đại học Kiến trúc. Nghĩ đến bạn bè cùng nhập ngũ có số người về quá ít mà thấy biết ơn và như mắc nợ.

Việc tham gia vào một sự kiện lịch sử trọng đại có đem đến thuận lợi đặc biệt nào cho anh trong đời sống?

Anh N.H.H: Có đấy. Đặc biệt nhất là tôi đã lấy được nhà tôi. Khi ấy mình hiền và thật thà lắm không biết làm xiêu lòng phụ nữ đâu. Nhưng khi tôi chỉ cho cô ấy xem ảnh dẫn giải Dương Văn Minh là cô ấy loại hết các “đối tượng” khác. Khi đang học cũng như lúc nhận công tác ai biết chuyện năm 1975 đều rất quý mình.

Ngày 30/4 hàng năm chúng tôi đều tổ chức liên hoan gặp mặt vui lắm. Có một cậu bạn cùng làm “chiến sĩ truyền đạt” luôn xúc động khi nhắc đến kỷ niệm một lần hai anh em gặp nhau đứng lại “truyền đạt” ở chân đồi chỉ mấy phút mà còn sống. Vì đúng lúc ấy trên đồi có bom và sau đó… không còn ai. Ngày ấy cánh truyền đạt luôn phải chạy bộ để đưa thông tin bằng miệng. Gian khổ, nguy hiểm lắm nhưng không làm lộ như lính thông tin có dây cũng như không dây dễ bị địch dò ra.

Anh có thể cho biết đôi nét về cuộc sống hiện tại?

Anh N.H.H: Tôi đã tham gia “bọc vỏ” cho những công trình lớn của Thủ đô thời kỳ đầu hoà bình như Khách sạn Hà Nội 11 tầng, toà nhà UBND thành phố. Một thời gian sau tôi nghỉ vì sức khoẻ sút. Tôi về làm kinh doanh và thiết kế may mặc ở hiệu may của gia đình số 1 Tràng Thi. Tôi có hai con trai đều đang theo học đại học. Nhớ lại ngày lịch sử 30/4 năm ấy, tôi vẫn còn nguyên xúc động và trân trọng.

Đó là kỷ niệm có ý nghĩa lớn nhất đời tôi.

Mọi nhân chứng phải được khai thác đầy đủ

Details
Đánh chiếm Dinh Độc Lập
06 September 2006
Hits: 7779

"Những chi tiết liên quan đến sự kiện lịch sử có thể phải được nhận thức khác. Đây là việc làm rất bình thường của sử học", ông Dương Trung Quốc,Tổng Thư ký Hội Sử học Việt Nam cho biết.

Việc Tạp chí Xưa & Nay do ông là Tổng Biên tập đặt lại vấn đề trên cơ sở công bố một số kiến nghị của những nhân chứng có liên quan, đặc biệt là của 4 cựu binh xe tăng 390 có thể mang đến một kết luận khác chưa?

Sự kiện chỉ diễn ra một lần, còn nhận thức về nó là một quá trình. Sự kiện diễn ra trong ngày 30/4/1975 với ý nghĩa sự kết thúc toàn thắng của một cuộc chiến tranh có tầm vóc lịch sử của dân tộc Việt Nam vẫn nguyên vẹn.

Nhưng những chi tiết liên quan đến sự kiện ấy có thể phải được nhận thức khác so với những kết luận của các đồng nghiệp của chúng tôi bên Viện LSQSVN. Đây là việc làm rất bình thường của sử học.

Sự đặt lại vấn đề này bắt đầu từ những kiến nghị của một số “người trong cuộc”?

Một phần là như vậy. Giá trị đầu tiên của lịch sử là sự công bằng. Mọi tư liệu lịch sử phải được đánh giá một cách khách quan. Mọi nhân chứng phải được khai thác đầy đủ.

Việc ông Bùi Tùng chưa thật “tâm phục khẩu phục” đối với những kết luận phải được tôn trọng, ít nhất như một sự bảo lưu. Ví như một công trình công bố lịch sử phải ghi lại quan điểm ấy trong một ghi chú kèm theo.

Người đời sau có thể lại lần đi từ những chi tiết ấy. Việc những chiến sĩ xe tăng 390 chưa được tham khảo ý kiến là một khoảng trống chưa được lấp đầy. Nói cách khác cần tôn trọng sự tham dự của mọi nhân chứng...

Chính nhờ sự tôn trọng một cách khách quan ngay từ đầu đối với các nguồn tư liệu và các nhân chứng mà những kết luận đưa ra sẽ gần với sự thật hơn và nặng tính thuyết phục hơn.

Hơn thế nữa, không khi nào có “kết luận cuối cùng trong nhận thức lịch sử”  được. Chúng tôi chỉ đưa ra những thông tin chưa được đề cập tới (của những nhân chứng) và nêu một số băn khoăn (tính thuyết phục) của một số chi tiết mà các đồng nghiệp bên Viện LSQSVN đã coi như lời kết luận.

Thâm tâm tôi mong muốn các bạn bên Viện LSQSVN đừng khép lại một vấn đề mà chính các bạn đã mở ra.

Tạp chí Xưa & Nay dành một số trang khá lớn cho hồi ức của ông Nguyễn Hữu Hạnh, phải chăng đó là một nguồn sử liệu quan trọng?

Hồi ức là một nguồn sử liệu có giá trị. Trong lịch sử chiến tranh, hồi ức của “phía bên kia” lại có giá trị riêng của nó, góp phần thẩm định những nhận thức lịch sử của “phía bên này”.

Nhất là ông Hạnh tuy chỉ chứng kiến những gì diễn ra bên Dinh Độc Lập nhưng quan hệ gắn bó của ông với các ông Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu (đều đã khuất) có thể có được những hiểu biết mà những nhân chứng khác không thể có được.

Ông còn sống đã là quý, ông còn minh mẫn lại càng quý hơn. Tôi lấy làm tiếc là ông Hạnh có một bài tham luận có giá trị, nhưng lại không được in vào tập kỷ yếu của một cuộc hội thảo lớn nhân kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam (năm 2005), nên tôi cho đăng đầy đủ hơn để nhiều người (và đời sau) được tham khảo.

Trở lại với những chi tiết mà những bạn đọc của chúng tôi quan tâm là xác định hành trạng của “những người trong cuộc”, tại sao lại mỗi người nói một khác,  mỗi lúc sự việc lại một khác vậy?

Đó là điều đáng buồn trước hết cho giới sử học chúng tôi. Lẽ ra ta cố làm sớm khi nhân chứng còn nhiều, tư liệu còn đầy đủ... Thú thật, để 30 năm sau, lật đi lật lại xem một trong hai người, ai nói đúng, ai nói sai là điều bất đắc dĩ.

Tôi xót xa khi nghe mấy bạn trẻ theo dõi việc chúng ta đang làm bình luận rằng có một trong hai người là không nói thật.

Tôi nhớ mãi cái hôm tôi cùng nhà làm phim Phạm Việt Tùng đến Viện LSQSVN, dễ cách đây đã 10 năm, để anh Tùng trình bày ý định làm bộ phim để xác lập lại chi tiết chiếc xe tăng 390 đã đột nhập đầu tiên vào bên trong Dinh Độc Lập nhờ tư liệu của nhà báo Pháp De Mulder và một số đoạn phim được sưu tầm.

Một đồng nghiệp chuyên nghiên cứu giai đoạn lịch sử này đưa ra quan điểm: Về đại cục ta thắng địch thua, thì chi tiết chiếc xe này hay xe khác đều của quân ta cả cái nào vào trước, cái nào vào sau chỉ là tiểu tiết, nói đi nói lại làm gì.

Tôi đã trả lời rằng: Lúc này đúng là như vậy. Nhưng giả dụ 100 năm sau, cháu chắt ta, chúng giỏi hơn ta, chúng nhiều phương tiện hơn ta, chúng phát hiện rằng ta nói dối (biết mà không nói) thì chúng không chỉ đặt câu hỏi vào cái chi tiết là cái xe tăng nào, mà chúng có thể đặt cả một câu hỏi lớn vào toàn bộ cái lịch sử mà chúng ta trao chuyền cho chúng, vào cả cái sự nghiệp mà thế hệ chúng ta đã làm...

Do vậy, bàn tiếp vấn đề này cho thấu đáo phải coi là chuyện bình thường của giới sử học. Cho dù kết luận cuối cùng không làm thay đổi kết luận của Viện LSQSVN đi nữa thì cuộc trao đổi này cũng vẫn có ích.

Còn nếu nó làm thay đổi cái đã kết luận thì lại càng có ích chứ sao! Nghề làm sử của chúng tôi luôn đòi hỏi như vậy.

Xin cảm ơn ông.

Phạm Xuân Thệ: Tôi chỉ nói những gì mình tham gia

Details
Đánh chiếm Dinh Độc Lập
06 September 2006
Hits: 11286

Sau cuộc làm việc với những cán bộ có trách nhiệm của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Tiền phong đã phỏng vấn Trung tướng Phạm Xuân Thệ, Tư lệnh Quân khu 1 về những tình tiết diễn ra tại Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975.

Trung tướng Phạm Xuân Thệ không bác bỏ hay bình luận gì nhiều về những kiến nghị của các cựu binh xe tăng 390.

Ông lấy ra 4 bức ảnh (ông đã có mặt trong đó) được các nhà báo có mặt tại Dinh Độc Lập tại thời điểm lịch sử ngày 30/4/1975 chụp lại và nói:

Về việc này, tôi chỉ nói những gì mình tham gia và một số việc làm đó đã được các nhà báo chụp lại ở những bức ảnh này. Về tình tiết tôi và một số cán bộ chiến sĩ trung đoàn 66, sư đoàn 304 vào Dinh Độc Lập diễn ra như sau:

Khi xe tăng 390 húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập, chúng tôi ngồi trên chiếc xe Jeep (xe thu được của địch ở Đà Nẵng) cũng vọt vào luôn. Mục đích của chúng tôi lúc đó là vào Dinh chỉ để cắm cờ thôi chứ chưa hề biết Dương Văn Minh cùng toàn bộ Nội các của chính quyền Sài Gòn có mặt trong đó.

Lúc xuống xe để vào Dinh, Trung tướng có nhìn thấy anh Bùi Quang Thận (trưởng xe tăng 843, người sau đó đã cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập) cũng cầm cờ chạy vào trong Dinh không?

Tôi không nhìn thấy, lúc đó mọi sự chú ý dồn cả vào phía trong Dinh. Trên đường vào Dinh Độc Lập, đến Thảo Cầm Viên, chúng tôi có gặp một người đàn ông cầm lá cờ đỏ sao vàng và đề nghị ông ta ngồi lên xe để làm nhiệm vụ dẫn đường.

Khi xuống xe, anh Đào Ngọc Vân (lái xe) có cầm theo lá cờ này cùng đồng đội (người của Trung đoàn 66) chạy vào Dinh. Lúc này người đàn ông mà chúng tôi đưa đi cùng có nói: “Lá cờ này của tôi”. Tôi bèn nói: “Cờ của ai cũng mang lên để cắm”.

Vừa vào đến tầng 1 của Dinh, chúng tôi gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh (Trung tướng Phạm Xuân Thệ chỉ vào bức ảnh 1-PV). Ông Nguyễn Hữu Hạnh nói: “Tôi là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá cho Tổng thống Dương Văn Minh. Toàn bộ Nội các của Tổng thống Dương Văn Minh đang ngồi trong phòng họp, mời cấp chỉ huy vào làm việc”.

Lúc này chúng tôi do phải tập trung vào việc này nên không nghĩ đến việc cắm cờ nữa. Sau đó ông Nguyễn Hữu Hạnh dẫn chúng tôi vào phòng họp và mời Tổng thống Dương Văn Minh ra. (Trung tướng Phạm Xuân Thệ chỉ vào bức ảnh 2 tiếp tục kể -PV).

Ông Hạnh giới thiệu ông Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu với tôi. Tổng thống Dương Văn Minh có nói: “Báo cáo cấp chỉ huy, chúng tôi đã biết quân giải phóng tiến công vào nội đô. Chúng tôi đang chờ quân giải phóng vào để bàn giao”.

Lúc này tôi nói: “Các ông đã bị bắt làm tù binh. Các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không có gì bàn giao cả”. Sau khi thảo luận một lúc, Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu đồng ý ra Đài Phát thanh Sài Gòn để tuyên bố đầu hàng.

Trong bản Kiến nghị của những cựu binh xe tăng 390, anh Vũ Đăng Toàn có nói rằng mình cùng trung úy Bùi Quang Thận vào Dinh đầu tiên và có gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh. Khi anh Thận lên nóc Dinh để cắm cờ, anh Toàn có dồn Nội các của Dương Văn Minh vào một chỗ.

Anh Toàn còn kể: Khi đại úy Phạm Xuân Thệ đến thì đã bắt tay Tổng thống Dương Văn Minh bằng tay phải, thấy vậy anh Toàn bắt tay Dương Văn Minh bằng tay trái?

Tại một cuộc Hội thảo vào năm 2005, khi nhìn vào bức ảnh này (ảnh1-PV), ông Nguyễn Hữu Hạnh cũng thừa nhận mình là người đứng quay lưng, tay đang giơ trong tư thế của người đang giới thiệu với tôi.

Về việc ông Hạnh ra gặp tôi, tôi chỉ xin bình luận thế này, nếu anh Toàn đã gặp Nội các của Dương Văn Minh rồi, thì không lẽ ông Hạnh còn phải đón tôi và giới thiệu chức danh một lần nữa, rồi nói chờ quân giải phóng vào để bàn giao.

Còn thực tế tình huống lúc đó do tập trung toàn bộ vào Nội các của Dương Văn Minh nên tôi không chú ý đến những gì xảy ra xung quanh. Việc anh Toàn rồi anh Nguyên có mặt trong phòng họp trước hay không tôi cũng không biết (không biết họ có mặt hay không ở trong phòng họp).

Việc anh Thận vào Dinh trước rồi lên nóc Dinh để cắm cờ tôi cũng không biết. Tôi chỉ xin nói rằng việc tôi xưng danh với anh Toàn là không có, việc bắt tay với Dương Văn Minh cũng không có.

Lúc đó, chỉ có chuyện Dương Văn Minh có đưa cho tôi một khẩu súng ngắn và tôi có giơ tay để cầm. Khẩu súng này sau tôi có bàn giao lại và hiện được lưu giữ tại bảo tàng. Còn anh Toàn có bắt tay Dương Văn Minh hay không tôi cũng không biết.

Vậy trong khi bắt Nội các Dương Văn Minh, Trung tướng không biết ông Bùi Tùng (tuy đến sau), cũng có mặt tại Dinh Độc Lập?

Tôi không biết. Và tại Dinh Độc Lập, anh Tùng không xuất hiện khi chúng tôi đang bắt Nội các Dương Văn Minh nên không có chuyện tôi báo cáo chức danh với đồng chí Bùi Tùng.

Tóm lại tại Dinh Độc Lập, tôi không xưng danh với ai cả. Chỉ khi đưa Dương Văn Minh ra xe chuẩn bị sang Đài Phát thanh Sài Gòn, thì có một ông (sau này tôi mới biết đó là ông Hà Huy Đỉnh, tiến sĩ kinh tế, nguyên chủ bút tờ Kinh tế thị trường Sài Gòn) hỏi tôi: “ Ngài cấp bậc gì?”. Tôi nói: “Tôi là đại úy”.

Trung tướng có thể kể chi tiết việc đưa Tổng thống Dương Văn Minh từ Dinh Độc Lập sang Đài Phát thanh Sài Gòn diễn ra như thế nào?

Tại Dinh Độc Lập, lúc này vẫn nghe tiếng súng nổ râm ran từ ngoài vọng vào. Ông Dương Văn Minh có nói với tôi là cho ông ta tuyên bố đầu hàng ở trong Dinh, vì bên ngoài súng nổ dữ lắm không bảo đảm an toàn. Tôi nói: “Quân giải phóng đã làm chủ thành phố Sài Gòn, bảo đảm an toàn cho ông đi”.

Trong khi đi ra ngoài để sang Đài Phát thanh (diễn ra trước thời điểm chụp tấm ảnh 3), ông Dương Văn Minh còn nói: “ Mời cấp chỉ huy lên xe của tôi”. Tôi nói: “Không, chúng tôi có xe rồi” và đưa ông ta lên chiếc xe Jeep để đi. Chính ông Dương Văn Minh là người chỉ đường cho chúng tôi sang Đài Phát thanh Sài Gòn.

Khi sang tới nơi, thấy tôi, anh Trương Quang Siều, tiểu đoàn trưởng, anh Hoàng Trọng Tình, Chính trị viên tiểu đoàn 8- đều chạy tới và nói: “Báo cáo anh, tôi đã đánh chiếm Đài Phát thanh”.

Tôi nói nhỏ với hai anh: “Tôi đưa Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu ra đây để họ phải tuyên bố đầu hàng, các anh chỉ cho phòng phát thanh. Tôi dẫn ông Minh, ông Mẫu theo anh Tình, anh Siều lên gác hai để vào phòng phát thanh. Khi chúng tôi đang soạn thảo lời đầu hàng cho Dương Văn Minh thì thấy một người cao to, mặc quân phục, đội mũ cứng bước vào.

Thấy tôi, anh hỏi: “Anh là ai?”. Tôi đáp: “Tôi là Phạm Xuân Thệ, Đoàn phó Đoàn Đông Sơn (biệt hiệu của trung đoàn 66 lúc bấy giờ – PV)”. Anh Tùng xưng danh: “Tôi là Bùi Tùng, Trung tá, Chính ủy Lữ đoàn 203.

Lúc ở Dinh Độc Lập, tôi tưởng các anh là người của quân đoàn nên không tham gia gì. Khi thấy các anh đưa ông Minh ra đây, tôi liền cho xe bám theo”. Sau đó anh Bùi Tùng góp ý cho chúng tôi hoàn chỉnh nốt Lời tuyên bố đầu hàng để Dương Văn Minh đọc.

Nhưng ông Bùi Tùng lại cho rằng Lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh do chính ông soạn thảo. Và quan trọng hơn là băng ghi âm lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh hiện chúng ta vẫn lưu giữ được hoàn toàn khớp với bản viết tay của ông Bùi Tùng?

Thực tế trong quá trình soạn thảo, tôi cầm bút viết đi viết lại ra vài tờ giấy với sự đóng góp của anh em Trung đoàn 66. Khi anh Bùi Tùng đến và góp ý lần cuối, tôi tiếp tục chép và đưa cho Dương Văn Minh đọc.

Dương Văn Minh nói: “Chữ chỉ huy khó xem quá, tôi đọc không được”. Thế là tôi phải đọc để ông Minh chép lại. Còn việc Lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh do tôi viết không thật khớp với lời ông Minh trên Đài Phát thanh là do khi đọc lại cho ông Minh chép, chúng tôi có chỉnh lại một lần nữa. (Trung tướng Phạm Xuân Thệ chỉ vào mình trong bức ảnh thứ 4-PV).

Đây, trong bức ảnh này tôi vẫn còn cầm một số tờ giấy soạn thảo lời đầu hàng cho Dương Văn Minh. Những bản thảo này sau đó tôi đút vào túi áo, và tối 30/4, khi bỏ bộ quần áo mình mặc hôm đó (được mặc sau nhiều ngày chiến đấu từ Đà Nẵng vào đến Sài Gòn), tôi quên không lấy những bản thảo này ra nên đã bị mất.

Còn Lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh khớp với bản viết tay của anh Bùi Tùng, theo tôi được biết là anh Bùi Tùng đã chép lại, căn cứ vào Lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh đọc trên Đài Phát thanh. Việc làm này được anh Tùng thực hiện khi được Quân đoàn 2 yêu cầu.

Nếu bây giờ cần làm rõ thêm những điều nêu trong bản Kiến nghị của kíp xe tăng 390 thì ý kiến của Trung tướng về vấn đề này như thế nào?

Điều này là tùy ở cấp trên. Tôi chỉ là một nhân chứng lịch sử. Theo tôi nếu thấy vấn đề gì chưa rõ thì cứ phải làm. Còn làm bất kể ở đâu thì tôi cũng chỉ kể xoay quanh 4 bức ảnh mà tôi vừa đề cập.

Xin cảm ơn Trung tướng.

More Articles …

  1. Ý kiến của Viện Lịch sử Quân đội
  2. Các cựu binh xe tăng 390 nói gì
  3. Ai bắt Dương Văn Minh
  4. Giờ kết thúc
  1. You are here:  
  2. Home
  3. CHUYÊN ĐỀ
  4. Sự kiện
Copyright © 2026 Lịch Sử Việt Nam - Vietnam history. All Rights Reserved. Designed by JoomlArt.com. Joomla! is Free Software released under the GNU General Public License.