Sau gần một ngày tổng công kích, các binh đoàn chủ lực của ta đã đánh chiếm hầu hết các căn cứ vòng ngoài của địch, cô lập bao vây, tiêu diệt và làm tan rã phần lớn các sư đoàn số 5, 18, 25, 22 và số 7 của ngụy. Trên hướng quân đoàn 2, sư đoàn 304 đã chiếm được căn cứ Nước Trong, ngã ba đường 15 và cầu sông Buông. 14 giờ ngày 29 tháng 4, binh đoàn thọc sâu của quân đoàn được lệnh xuất kích.

Tiến công dinh Độc Lập

Theo kế hoạch tiến quân, đi đầu đội hình là phân đội xe tăng trinh sát chiến đấu và 3 tiểu đoàn 1, 4, 5, của Lữ đoàn tăng - thiết giáp 203, có bộ binh của trung đoàn 66 và công binh ngồi trên thành xe. Tiếp theo là tiểu đoàn bộ binh 7 trung đoàn 66, tiểu đoàn pháo binh 85mm, tiểu đoàn 7 pháo cao xạ 37mm, tiểu đoàn 3 công binh (tăng cường) của lữ đoàn công binh 219 và các bộ phận còn lại của lực lượng thọc sâu; tổng số gần 400 xe chiến đấu và đảm bảo. Tiến sau đội hình của binh đoàn thọc sâu là trung đoàn bộ binh 18, sư đoàn 325, lực lượng dự bị mạnh của binh đoàn.

Quyết chặn bước tiến quân thần tốc của ta, địch cho máy bay đánh sập cầu sông Buông. Tiểu đoàn 3 lữ đoàn công binh 219 vượt trên bom đạn ác liệt, sau 2 giờ đã dựng lại được cây cầu dài 40 mét, mở thông đường cho binh đoàn tiến quân. Nửa đêm 29-4, tiểu đoàn 1 lữ đoàn 203 đi đầu đội hình đến bắc cầu Xa Lộ (qua sông Đồng Nai, cầu Đồng Nai bây giờ), bắt liên lạc được với lực lượng đặc công của trung đoàn 116, nắm tình hình địch.

Mất tuyến phòng ngự vòng ngoài ở Nước Trong, sông Buông, địch co lực lượng về "tử thủ" ở ngã ba Long Bình, cầu Xa Lộ, căn cứ Nguyễn Huệ, Thủ Đức, Học viện cảnh sát, căn cứ Rạch Chiếc, cầu Sài Gòn. Đặc biệt ở cầu Xa Lộ, địch bố trí lực lượng mạnh ở bờ tây sông. Đồng thời chúng sử dụng xe M113 chở đầy đạn pháo, lựu đạn, đạn súng bộ binh sẵn sàng cho nổ để phá cầu. Kiên quyết giữ vững tốc độ tấn công, quân đoàn sử dụng tiểu đoàn H pháo binh tầm xa của lữ đoàn 164 chế áp các trận địa pháo binh ở Long Bình, sau đó bắn phá các trận địa hỏa lực địch ở bờ tây sông Đồng Nai, yểm hộ cho bộ binh và xe tăng ta chiếm ngã ba Long Bình và cầu Xa Lộ. 24 giờ, ta đến cầu Xa Lộ, xe tăng và bộ binh ta tiến đánh cụm địch ở bên kia cầu Xa Lộ. Để tránh thiệt hại cho các lực lượng phía sau, ta cơ động tiểu đoàn xe tăng 1 tới sát cầu, bắn nổ tung 3 xe M113 chở đầy đạn ở giữa cầu; sau đó quân ta tràn lên cầu. Địch cho xe tăng dẫn bộ binh ra phản kích. Xe tăng của tiểu đoàn 1 bắn cháy 4 xe địch, số còn lại hốt hoảng bỏ chạy về Thủ Đức; Thừa thắng, lúc 3 giờ 15 phút bộ phận đi đầu được lệnh vượt qua cầu. Cùng thời gian trên, sư đoàn 304 sử dụng trung đoàn 24 đánh chiếm căn cứ Long Bình. Sư đoàn 325 đánh chiếm chi khu Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ; sau đó trung đoàn 101 đánh thẳng xuống Cát Lái.

Trong khi các đơn vị của quân đoàn đang tiến công như vũ bão chiếm các mục tiêu ở vòng ngoài. Vào lúc 4 giờ ngày 30-4, tại một địa điểm gần cầu sông Buông, Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 hạ huyết tâm theo xa lộ Biên Hòa - Sài Gòn đánh thẳng vào thủ phủ của chính quyền Sài Gòn tại dinh Độc Lập.

5 giờ ngày 30-4, sau khi đánh bại địch giữ cầu Xa Lộ, trên sông Đồng Nai, binh đoàn thọc sâu tức tốc vượt cầu, nhanh chóng vượt qua các tuyến ngăn chặn của địch, 5 giờ 30 phút, tiểu đoàn 1 xe tăng đến cách ngã ba Thủ Đức khoảng 500m, thì bị địch chặn lại. Ngay lập tức, sở chỉ huy tiền phương của quân đoàn điều 2 khẩu pháo 85mm lên bắn ngắm trực tiếp vào trận địa địch. Đại đội 12 tiểu đoàn 7 pháo cao xạ triển khai ngay trên xa lộ, hạ thấp nòng bắn sập đài quan sát, diệt 2 trận địa cối và nhiều lính địch. Các xe tăng của tiểu đoàn 5 lữ đoàn 203 dũng cảm vòng ra sau khu huấn luyện Thủ Đức đột phá chọc thủng trận địa phòng ngự của địch, diệt nhiều tên. 9 giờ, Tư lệnh quân đoàn 2 đến Thủ Đức, thấy tiểu đoàn 5 đang dồn sức đánh địch ở Thủ Đức, đã lệnh cho tiểu đoàn 5 lập tức đuổi theo đội hình của lữ đoàn 203 đánh vào mục tiêu chính và giao nhiệm vụ diệt địch ở Thủ Đức cho trung đoàn 18 sư đoàn 325.

Trong thời gian đó, bộ phận đi đầu của binh đoàn thọc sâu đã tiến sát tới cầu Sài Gòn, một cầu lớn được đặc công chiếm giữ từ trước. Nhưng trên đường tiến lên cầu, địch dựng các vật cản và liên tục đánh chặn ta. Khi ta tiến đến đầu cầu phía bắc, địch cho 8 xe tăng và xe bọc thép ra phản kích. Sáu tàu chiến ở Tân Cảng nổ súng vào đội hình của binh đoàn thọc sâu. Hai xe tăng của ta bị trúng đạn bốc cháy. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1, hai cán bộ đại đội, một số cán bộ chiến sĩ lữ đoàn 203 và lữ công binh 219 hy sinh. Cán bộ, chiến sĩ đại đội 5 tiểu đoàn bộ binh 8 thương vong nặng.

Để nhanh chóng đập tan sự kháng cự của địch, chỉ huy tiền phương của quân đoàn sử dụng pháo tầm xa bắn mạnh chi viện cho trung đoàn 66 diệt cụm địch ở tây đường. Tiểu đoàn 7 pháo cao xạ đánh máy bay, không cho chúng ném bom phá cầu và hạ thấp nòng cùng pháo 85mm đánh trả tàu chiến địch ở Tân Cảng, tạo điều kiện cho bộ binh và xe tăng đột phá qua cầu.

Các chiến sĩ đại đội 8 tiểu đoàn công binh 3 vượt qua bom đạn ác liệt của địch phá vật cản mở đường cho xe tăng, phối hợp cùng bộ binh, xe tăng chiến đấu đánh bại địch kháng cự ở cầu. Trên đường tiến vào cầu, hỏa lực của xe tăng và của súng ĐKZ bắn cháy 2 xe tăng và 2 tàu chiến địch.

9 giờ, bộ phận đi đầu của binh đoàn thọc sâu đánh tan quân địch bảo vệ cầu, ngay lập tức đại đội tăng 4 vượt lên dẫn đầu đội hình thọc sâu vào nội thành. Phát triển tới cầu Thị Nghè, gặp địch kháng cự, đại đội bắn cháy 4 xe tăng và xe bọc thép M113, nhanh chóng vượt qua cầu tiến theo đường Hồng Thập Tự.

 Trước sức tấn công mãnh liệt của quân ta, quân ngụy vứt vũ khí trà trộn vào dân chạy trốn. Được nhân dân dẫn đường, xe tăng, xe cơ giới của ta tiến theo đường Hồng Thập Tự và đường Thống Nhất vào dinh Độc Lập.

11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, phân đội đi đầu của binh đoàn thọc sâu tiến đến dinh Độc Lập, địch không còn tinh thần chống cự, xe tăng của ta xông thẳng vào húc đổ cổng sắt, tiến vào sân; chỉ huy đơn vị lập tức rời xe xông vào dinh, hạ lá cờ ngụy, treo cờ giải phóng lên vị trí cao nhất. Cùng thời gian, cán bộ, chiến sĩ lực lượng đột kích của binh đoàn thọc sâu và biệt động thành phố vào phòng họp, bắt tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ các nhân vật chủ chốt trong nội các Sài Gòn. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.

(Báo Quân Đội Nhân Dân)

 Dưới đây là lời kể của phía các nhà báo đi theo cánh quân này.

...Ngày 27, 28, 29-4-1975, nhóm nhà báo chúng tôi gồm phóng viên báo Quân đội nhân dân, phóng viên Thông tấn xã Việt Nam, phóng viên báo Quân đoàn 2 đã có mặt tại khu vực Đồn điền cao su Ông Quế và căn cứ Nước Trong sau khi Quân đoàn 2 tiến công chiếm lĩnh khu vực này. Trong các ngày và đêm 28, 29-4, khi chứng kiến các cỗ pháo 122mm và các giàn hỏa tiễn đặt tại đây bắn về phía Sài Gòn, chúng tôi đã hỏi và được các đồng chí chỉ huy cho biết mục tiêu là sân bay Tân Sơn Nhất, không bắn vào các khu dân cư. Trong ngày 29-4, khi chứng kiến các loại máy bay chở người Mỹ, người Việt di tản từ Sài Gòn về phía biển, chúng tôi đã hỏi và được các đồng chí chỉ huy của một đơn vị pháo phòng không của sư đoàn 367 trả lời: Đơn vị được lệnh không bắn vào những máy bay đó, cả những chiếc máy bay F16 của Mỹ yểm trợ cho cuộc di tản này. Cũng tại đây, không chỉ tàn quân Ngụy bắn tỉa vào phía chúng tôi mà có cả một số vợ con quân Ngụy cũng ném lựu đạn vào chiến sĩ sư đoàn 304, 325. Dẫu vậy, các đơn vị không tiến công vào khu vực dân cư.

Mờ sáng ngày 30-4, chúng tôi lên các xe trong đội hình chiến đấu hành tiến của trung đoàn 66, sư đoàn 304 tiến về hướng Sài Gòn. Các đơn vị xe tăng của lữ đoàn 203 dẫn đầu đội hình. Đơn vị xe tăng ta đã dũng mãnh vượt qua sự chống trả của quân Ngụy ở khu vực cầu Biên Hòa cùng hệ thống vật cản là những ụ cát, cọc và ghi sắt dựng dày đặc trên cầu. Chúng tôi phải dừng lại khá lâu ở phía bắc cầu Rạch Chiếc (trên xa lộ Sài Gòn- Biên Hòa, nay là xa lộ Hà Nội). Cuộc chiến đấu ở khu vực này đã diễn ra rất quyết liệt và chưa kết thúc. Khoảng gần 10 giờ, khi quân ta đã chiếm lĩnh hoàn toàn khu vực này và đang tiến công xe tăng địch tại cầu Tân Cảng thì chúng tôi được một cán bộ chỉ huy thuộc trung đoàn 66 bộ binh thông báo Dương Văn Minh đã đọc tuyên bố lệnh cho quân Ngụy ngừng chiến đấu. Có mặt tại cầu Rạch Chiếc, trước mắt chúng tôi là những chiến sĩ ta và lính Ngụy bị thương nằm ngay bên cầu, máu loang đỏ mặt cầu. Chiến sĩ ta vừa nhanh chóng cấp cứu vừa truy bắt những tên còn lẩn trốn dưới gầm cầu, trong những bãi cây cỏ lấp xấp nước. Hỏi chuyện nhanh, chúng tôi được biết đây là những chiến sĩ đặc công, biệt động đã chiến đấu và giữ cầu hai ngày nay, địch liên tục phản kích, nhiều chiến sĩ ta bị thương và hy sinh.

Như vậy chính là các đơn vị tại chỗ  cùng đại quân ta với xe tăng dẫn đầu đã tiêu diệt, bắt sống hoàn toàn quân địch tại đây chứ không phải chúng nghe lệnh qua đài của Dương Văn Minh mà buông súng đầu hàng. Tại cầu Tân Cảng (cầu Sài Gòn), sự chống trả của quân Ngụy rất xảo quyệt. Xe tăng, pháo của chúng bố trí bên này cầu, đúng lúc xe tăng ta vượt dốc cầu cong, nòng pháo súng chĩa lên trời, là chúng nổ súng. Những chiếc xe tăng đầu tiên của lữ đoàn 203, trong đó có xe 843 của đại đội trưởng Bùi Quang Thận dũng mãnh vượt qua khu vực này rồi tiến công tiêu diệt xe tăng M41, xe bọc thép của quân Ngụy trên cầu Thị Nghè. Khi chúng tôi cùng các xe ô tô chở bộ binh của trung đoàn 66 đến cầu Thị Nghè, đạn trong chiếc xe bọc thép của địch vẫn nổ, mảnh sắt thép, khói lửa bùng lên giữa mặt cầu từng chập, từng chập. Tôi phải rời khỏi xe bộ đội, đi cùng xe nhỏ com-măng-ca của các phóng viên Thông tấn quân sự và Thông tấn xã Việt Nam, lợi dụng giữa lúc đạn tạm dừng nổ, lách qua phần cầu còn lại tiến về phía Dinh Độc Lập.

Khi các nhà báo chúng tôi vào sân Dinh, lá cờ chiến thắng của quân ta do anh Bùi Quang Thận đã cắm trên nóc Dinh Độc Lập. Chúng tôi đang chụp ảnh xe tăng ta đang còn quay súng về phía Dinh Độc Lập và đi tìm gặp Bùi Quang Thận thì nhiều loạt đạn từ phía một số ngôi nhà cao tầng ven đường Thống Nhất, trước cửa Dinh bắn xối xả về phía chúng tôi. Xe tăng ta được lệnh quay nòng, nổ súng thị uy, những tiếng súng kia mới im bặt....

(Mạnh Hùng, báo Quân Đội Nhân Dân)

 Dưới đây là lời kể về những người lính đặc công giữ cầu

Đại tá Tống Viết Dương (nguyên tư lệnh cánh đông chiến dịch Hồ Chí Minh), trung tá Võ Tấn Sĩ (nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn đặc công biệt động 116) bảo từ bao năm nay, cứ đến ngày 30-4 câu chuyện về những ngày chiếm giữ các cầu, mở đường cho quân chủ lực vào thành phố đã được các ông kể đi kể lại không biết bao lần. Thế nhưng đến tận hôm nay, câu chuyện ấy vẫn sống động như 29 năm về trước...

Lính đặc công học đánh ban ngày

“Giữa tháng tư, trung đoàn đặc công biệt động 116 đang tập trung ở vùng bưng sáu xã chuẩn bị cho trận đánh liên trường quân sự Thủ Đức thì được lệnh rút về tập trung cho chiến dịch. Chúng tôi quay về Bình Sơn, Long Thành nhận nhiệm vụ mới: chiếm và giữ các cây cầu dẫn vào thành phố....”.

Võ Tấn Sĩ khi ấy là thiếu tá, trung đoàn trưởng. Dẫn anh em đặc công cắt đồng về căn cứ, từ thủ trưởng đến lính ai cũng mệt mỏi nhưng khi biết nhiệm vụ mới có thể sẽ là những trận đánh cuối cùng để giải phóng đất nước, “một luồng sinh khí mới bỗng bừng dậy”. Tất cả háo hức chuẩn bị cho ngày tiến về Sài Gòn, mục tiêu đầu tiên chính là cầu Đồng Nai.

“15-4, đội điều nghiên đầu tiên được phái đến khảo sát cầu. Tàu hải quân địch tuần tiễu gắt quá nên anh em bị lộ. Những loạt đạn bắn rát khiến toàn đội phải lui về. Một anh bị thương, bất tỉnh bên hàng rào kẽm gai và bị địch bắt sống...”.

Đến hôm nay ông Sĩ vẫn còn nhớ người chiến sĩ ấy tên Hà, quê ở Nghệ An. Anh bị thương vào cổ, đứt cuống họng. Sau ngày giải phóng, đồng đội đã tìm được anh ở Bệnh viện Cộng Hòa (nay là Bệnh viện 115), anh ra dấu mượn một cây bút: “Nếu tôi còn nói được, xin cho tiếp tục phục vụ quân đội”.

“Nhóm trinh sát thứ hai đã hoàn thành nhiệm vụ. Sau khi thống nhất giờ G, đêm 26-4, 250 chiến sĩ đặc công thủy, đặc công khô cắt hàng rào tiến vào trận địa. Rạng sáng,  súng lệnh nổ. Loạt thủ pháo đầu tiên đã diệt gọn lực lượng địch đang ngủ trong khu trại. Đặc công khô cùng đặc công thủy phối hợp đánh chìm cùng lúc bốn chiếc hải thuyền. Các công sự hai đầu cầu cũng nhanh chóng bị các chiến sĩ của ta chiếm giữ”.

Nhanh gọn vậy nhưng những gì khó khăn nhất vẫn còn ở phía trước. Ngay sáng hôm sau, các lực lượng tiếp viện của địch từ Biên Hòa, Long Bình, Thủ Đức đã ùn ùn kéo tới, pháo bắn dày đặc các ngả, máy bay lượn sát trên đầu...

Ông Sĩ kể rằng ở cương vị một người chỉ huy, ông chưa bao giờ phải đương đầu với nhiều khó khăn như ba ngày 27, 28 và 29 ấy. Không chỉ phải trực tiếp chỉ đạo chiến lược, chiến thuật, bổ sung quân, bổ sung vũ khí, lương thảo, tìm cách giải quyết thương binh... mà khó khăn nhất lại là động viên tinh thần anh em.

Ai cũng ra trận với tinh thần quyết tử nhưng những sở trường của lính đặc công là đột nhập ban đêm, đánh bất ngờ, đánh nhanh thắng nhanh đều đã được vận dụng hết. Phải chiến đấu giữa ban ngày, không vật che khuất, che đỡ, phải bám trụ, chiếm giữ thời gian lâu là điều mà lính đặc công không sẵn sàng chuẩn bị.

Nằm trong một lò gạch cách cầu Đồng Nai mấy trăm mét, điện đài của trung đoàn trưởng vang lên liên hồi: “Thủ trưởng ơi, địch đến đông quá”, “Báo cáo: hết đạn”, “Báo cáo: xe tăng địch đến”... Trong cả ngàn thông tin dồn dập và phải xử lý tức thời như thế, trung tá Võ Tấn Sĩ bảo có một tin làm ông lặng đi mất mấy phút “Cầu Rạch Chiếc đây. Báo cáo: đã hoàn thành nhiệm vụ nhưng anh em hi sinh nhiều quá...”.

Mấy phút trong thời điểm đó đã là nhiều lắm, bởi lệnh thì chỉ có một “Bám trụ giữ cầu, đợi quân chủ lực”. Không biết bao giờ quân chủ lực mới đến nhưng Võ Tấn Sĩ quyết không để lực lượng bị hao hụt thêm. Trưa 29, ông trực tiếp dẫn một tiểu đoàn đặc công đánh vào tổng kho Long Bình, khuân súng chống tăng, đạn pháo, lương thực ra cầu tiếp tế...

Mật hiệu: “Hồ Chí Minh” - Đáp: “Muôn năm”

Đêm 29 lại có tiếng xích xe tăng nghiến trên đường, trinh sát báo có một đoàn xe tăng vừa đi vừa nhằm các lô cốt mà bắn. Mấy ngày đợi chờ đã quá sốt ruột nên từ tư lệnh Tống Viết Dương đến các anh lính ai cũng mong đó là xe tăng quân chủ lực. Trinh sát quát hỏi mật hiệu “Hồ Chí Minh”, bên kia đáp “19 tháng 5”.

Không đúng rồi, mọi người thất vọng, một anh lính bực bội bắn một phát B41. Trong ánh đạn sáng lòa bay qua tháp pháo, mọi người nhìn thấy lá cờ nửa đỏ nửa xanh của Mặt trận dân tộc giải phóng. “Quân mình, quân mình...”, ai nấy reo ầm lên, mấy anh lính xe tăng sau một giây ngỡ ngàng cũng kịp thời nhớ ra câu mật hiệu của chiến dịch Hồ Chí Minh, hô vang: “Muôn năm”.

Chưa ai quen ai nhưng gặp nhau ai cũng mừng như chưa bao giờ mừng thế. Lữ đoàn xe tăng 203 cho biết nhiệm vụ của họ là tiến thẳng vào dinh Độc Lập nhưng bộ binh lại chưa theo kịp. Tư lệnh Tống Viết Dương liền trổ tài “quảng cáo” về các khả năng của lực lượng đặc công biệt động và cuối cùng đã thỏa thuận được với lữ đoàn xe tăng về kế hoạch biến lính đặc công thành lính bộ binh để vào Sài Gòn kịp ngày 30-4.

Lần đầu tiên được ngồi lên xe tăng, lại là xe tăng tiến về Sài Gòn, anh nào cũng hào hứng, tranh nhau lên trước. Nhưng rồi vẫn cứ phải nhường nhau. Một tiểu đoàn đặc công thủy phải ở lại giữ cầu. Lúc đi qua cầu Rạch Chiếc, thấy anh em mình hi sinh nằm rải rác trong những đám lá dừa nước, một tiểu đội nữa lại nhảy xuống lo phần chôn cất. Thế nhưng vẫn chưa hết những người phải nằm lại.

Qua ngã tư Thủ Đức, pháo trong trường quân sự của địch bắn ra khiến một chiếc xe tăng của ta bốc cháy, bảy chiến sĩ hi sinh. Một phát đạn M72 nữa của lính ngụy chạy loạn làm cháy chiếc xe tăng dẫn đầu ngay khi vừa chớm lăn lên cầu Sài Gòn, bốn chiến sĩ nữa trở thành liệt sĩ. Chiếc xe đi thứ hai thì bị sa lầy xuống con kênh dưới cầu Đen. Những chiếc xe tăng, các anh em đi sau đã trở thành những chứng nhân lịch sử.

Từ ngày ấy đến nay đã 29 năm, trung đoàn 116 (367 cũ) đã bao lần họp mặt nhưng lần họp mặt nào xen giữa những tiếng cười cũng có người rưng rưng nước mắt. Từ khi trung đoàn thành lập (1970) cho đến ngày giải phóng, có hơn 1.000 chiến sĩ đã hi sinh.

Ông Sĩ, ông Dương cứ kể mãi không hết về những anh lính đặc công rất tinh nhuệ nhưng lại phải lót lá dừa ngay trên những bụp dừa được phạt ngang để ngủ; những ngày lội bưng vào trận, các anh đeo trên mình trần đầy thủ pháo, lựu đạn, còn lương khô thì không có.

Những anh đặc công ấy đã là một trong những người đầu tiên vào giải phóng Sài Gòn, cũng là một trong những người cuối cùng ngã xuống trước ngưỡng cửa hòa bình. Thế mà “ngày ở trong rừng, mơ đến ngày giải phóng, đứa nào cũng chỉ ước: hòa bình được về nhà, được ngủ, được cắm một cái cần câu...”.

PHẠM VŨ (báo Tuổi Trẻ 29/04/2004)

Nhà văn Chu Lai - nguyên đại đội trưởng đặc công vùng ven Sài Gòn kể:

Cách Sài Gòn 15km mà 10 năm mới vào được

Đêm 29-4-1975, đại đội đặc công của tôi nhận lệnh đánh và giữ một cây cầu bắc qua con sông cách cửa ngõ Sài Gòn 20km để sáng mai đại quân tiến qua. Với lính đặc công, đứa con của đêm tối, đánh một cây cầu là chuyện vặt, nhưng giữ nó trong suốt một ngày, dưới ánh sáng ban ngày lại là một chuyện khác, cực kỳ gay go và nguy hiểm.

6g sáng 30-4, mặt trời lên gay gắt rồi mà vẫn không thấy đại quân đâu, xung quanh là lô nhô mũ sắt của lính Sài Gòn. Chúng tôi nằm áp tai xuống đất, chờ, rồi mãi cũng có tiếng ì ì rất lạ, không giống tiếng xe bọc thép Mỹ mà chúng tôi đã quá quen thuộc suốt 10 năm qua.

Lính của tôi có cậu trèo cả lên cây để ngóng, cuối cùng thì cũng từ từ ló ra ở cuối đường: nòng pháo của một chiếc xe tăng, tiếp theo là cả chiếc xe, trên đầu xe có ngôi sao vàng. Một cảm giác kỳ lạ làm tất cả run lên: Sống rồi, thắng rồi! Đúng là chiến thắng thật rồi.

Chúng tôi nhảy dựng lên, không có đứa nào mừng quá mà khóc rưng rưng như các nhà văn sau này hay tả. Chúng tôi không khóc mà phát điên, thằng thì leo lên thành cầu cắm đầu nhảy xuống sông, thằng thì cởi quần áo nằm ra giữa đường giãy đành đạch, thằng thì chửi thật tục, những câu ngớ ngẩn vô nghĩa.

Tôi là chỉ huy, cố làm ra vẻ nghiêm túc nhưng hình như tôi cũng đã làm... tất cả mọi việc như lính của tôi. Xe tăng và đại quân ào qua, chúng tôi vì đã biết đường sá Sài Gòn chút ít (đợt Mậu Thân chúng tôi đã chiếm Sài Gòn) nên người thì nhảy xe ôm, người bắt xe đò đi theo đại quân.

10 năm, chúng tôi ở cách Sài Gòn có 15km mà phải 10 năm mới vào được, nghĩa là mỗi năm chúng tôi đi được 1,5km, và đi qua tuổi trẻ, máu xương của bao nhiêu con người...

VIỆT HOÀI ghi (báo Tuổi Trẻ)

Dưới đây là bài viết được thực hiện dựa theo nội dung những cuộc phỏng vấn vào tháng 4-2005 giữa phóng viên Tuổi Trẻ với nhiều nhân chứng và nhân vật có liên quan: trung tướng Phạm Xuân Thệ, thiếu tướng Thiều Chí Đinh, đại tá Bùi Văn Tùng, đại tá Bùi Quang Thận, PGĐ phân xưởng sơn Kovik Vũ Đăng Toàn, đại tá Phùng Bá Đam, ông Phạm Công Dũng (Bộ Ngoại giao), ông Nguyễn Hữu Hạnh, KTS Nguyễn Hữu Thái, tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, nhà báo Kỳ Nhân...

 

...Những chiếc xe tăng T54 và T59 thuộc lữ đoàn 203 cắm cờ xanh đỏ sao vàng ầm ầm từ hướng Biên Hòa lao về mục tiêu cuối cùng: dinh Độc Lập.

Lúc đó là khoảng 9g30.

Bất ngờ, đoàn xe tăng bị chặn lại tại cầu Sài Gòn bởi hỏa lực của tám chiếc M48 và M113. Cùng lúc, những chiếc tàu chiến của hải quân Sài Gòn đang neo đậu ở Tân Cảng cũng bắt đầu nã đạn như mưa vào đoàn tăng giải phóng. Hai chiếc T54 đi đầu bị bắn cháy, hai chiếc khác bị hỏng và lao xuống vệ đường. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 xe tăng Ngô Quang Nhỡ và nhiều chiến sĩ khác hi sinh tại chỗ.

Vào lúc này, trên radio, Tổng thống Dương Văn Minh đã đơn phương tuyên bố ngừng bắn và chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh “yêu cầu binh sĩ chấp hành lệnh của tổng thống”. Nhưng bất chấp lệnh đó, tiếng súng kháng cự vẫn nổ và cuộc giao tranh vẫn diễn ra ác liệt ngay cửa ngõ Sài Gòn.

Không để ổ kháng cự ở cầu Sài Gòn cầm chân quân giải phóng quá lâu, Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 đã ra lệnh cho lực lượng pháo binh, cao xạ và bộ binh sư đoàn 304 tham chiến. Tiếng súng chỉ ngưng khi hai chiếc M48 của quân VNCH nổ tung ngay trên cầu. Hai chiếc tàu chiến bị bắn cháy, những chiếc khác chạy thẳng ra phía biển sau khi trút những loạt đạn cuối cùng.

Những chiếc tăng T54 và T59 vọt qua cầu (xe T54 do Liên Xô sản xuất, còn T59 do Trung Quốc sản xuất theo công nghệ Liên Xô). Trên những chiếc tăng lúc này còn có những chiến sĩ thuộc trung đoàn đặc công biệt động 116 và trung đoàn bộ binh 66. Đặc biệt, có một phóng viên ảnh của Hãng tin Mỹ UPI - đó là Hoàng Văn Cường.

...Hoàng Văn Cường kể: "Tôi được văn phòng UPI Sài Gòn yêu cầu ra ngoại ô để có được những hình ảnh nóng nhất trước giờ G. Đến ngã ba Vũng Tàu thì bất ngờ gặp xe tăng của “mấy ổng” ầm ầm lao tới. Tôi hoảng quá, vội lột bỏ áo giáp chống đạn, để lộ ra chiếc áo trắng và lỉnh kỉnh đủ thứ máy ảnh cho “mấy ổng” thấy, rồi giơ hai tay lên vẫy chào. Một chiếc tăng dừng lại.

Tôi nghe “mấy ổng” xì xào: “Phóng viên! Phóng viên!...”, rồi bất ngờ cho tôi lên xe luôn. “Mấy ổng” hỏi tôi đủ thứ, nhưng tôi chỉ trả lời bằng... tiếng Nhật”. “Tại sao anh lại giả bộ là một phóng viên Nhật?”. “Bởi vì lúc ấy tôi đang làm cho một hãng tin Mỹ. Thật tình tôi không biết Việt cộng sẽ đối xử với tôi ra sao. Tôi sợ “mấy ổng”... bắn!”.

Những chiếc xe tăng đầu tiên đã tiến đến ngã tư Hàng Xanh. Sài Gòn đã ở trước mặt! Nhưng đường nào vào dinh Độc Lập đây? Những người lính tăng tự hỏi. Trước giờ xuất quân, họ được hướng dẫn: quẹo trái, đi tiếp bảy ngã tư rồi quẹo trái tiếp... Nhưng hướng dẫn là một chuyện, còn thực tế đường phố xa lạ và chằng chịt trước mặt lại là chuyện khác. Cả lực lượng đột kích thọc sâu này chỉ có một bản đồ Sài Gòn - Gia Định. Và đó lại là tấm bản đồ du lịch mà một người bà con ở Đà Nẵng tặng cho trung tá chính ủy lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng (ông Tùng quê ở Đà Nẵng).

“Đến ngã tư Hàng Xanh, quẹo trái!”. Những chiếc tăng đầu tiên quẹo trái theo lệnh, rồi ầm ầm lao thẳng về phía Thị Nghè. Đi đầu là chiếc tăng T59 số hiệu 387, đi thứ hai cũng là một chiếc T59 số hiệu 390. Xe T54 số hiệu 843 của đại đội trưởng Bùi Quang Thận đi thứ ba... Theo sau những chiếc tăng dẫn đầu là chiếc Jeep (xe chiến lợi phẩm lấy từ Đà Nẵng) chở đại úy Phạm Xuân Thệ, trung đoàn phó trung đoàn bộ binh 66 (hiện nay là trung tướng tư lệnh Quân khu I).


Phố xá vắng tanh, không một bóng người. Tất cả những ngôi nhà đều đóng cửa. Vì sao vậy? Những người lính tăng căng thẳng. Rồi câu trả lời xuất hiện ngay lập tức: một ổ kháng cự mọc ngay trên cầu Thị Nghè, với cả xe tăng M41 và M113. Cuộc chạm súng cuối cùng đã diễn ra ngay trong nội thành Sài Gòn. Ổ kháng cự trên cầu bị “dập tắt” không lâu sau đó.

Nhưng bên này, chiếc tăng dẫn đầu 387 đã trúng đạn. Một chiến sĩ công binh ngồi trên xe hi sinh. Riêng trưởng xe 387 là trung đội trưởng Lê Tiến Hùng bị thương một cách hi hữu. Anh ngồi trong xe tăng, chỉ ló đầu ra ngoài quan sát thôi, nhưng không hiểu sao lại bị thương rất nặng ngay “chỗ ấy”. Đồng đội khiêng anh xuống xe, gõ cửa nhà một gia đình người Hoa để nhờ giúp đỡ cứu chữa (anh Hùng sau đó được cứu sống, về quê lấy vợ rất vui vẻ và đã có hai con).

Sau khi chiếc 387 bị bắn hỏng phải nằm lại, chính trị viên đại đội Vũ Đăng Toàn cho xe 390 vượt qua cầu Thị Nghè và trở thành chiếc tăng dẫn đầu lực lượng đột kích thọc sâu. Theo sau là chiếc 843 của đại đội trưởng Bùi Quang Thận. Nhưng tại sao chiếc xe đi sau lại húc vào cổng dinh Độc Lập trước?

“Chúng tôi đi lạc vì không biết đường - Vũ Đăng Toàn kể - Xe 390 của chúng tôi cứ thẳng tiến theo đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) và không biết chính xác phải quẹo trái ở ngã tư nào để đến dinh”. Khi xe 390 vượt qua luôn ngã tư Công Lý - Hồng Thập Tự (Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Nguyễn Thị Minh Khai), đến cổng Trường Lê Quý Đôn thì nhận được tín hiệu của Bùi Quang Thận từ phía sau: phải quay lại!

Thật ra thì đại đội trưởng Bùi Quang Thận cũng chẳng biết đường, dù dinh Độc Lập ở ngay bên cạnh rồi. Anh cho xe 843 dừng lại. Đang bối rối giữa phố phường vắng lặng thì bỗng xuất hiện một cô gái đi xe máy. Bùi Quang Thận ra lệnh cho cô gái dừng lại. Dù thất kinh hồn vía trước lính tăng Việt cộng, cô gái cuối cùng cũng hướng dẫn xe 843 quẹo qua đường Pasteur, rồi theo đường Thống Nhất thẳng đến dinh.

“Dinh Độc Lập đây rồi!”. Những người lính tăng trên chiếc 843 bỗng hồi hộp và căng thẳng hơn bao giờ hết. Và do căng thẳng, trưởng xe Bùi Quang Thận đã đi đến một quyết định bất ngờ: bắn đại bác vào dinh Độc Lập!

“Khi xe tăng 843 còn cách dinh hơn 50m, tôi ra lệnh cho pháo thủ nạp đạn pháo và bắn thẳng. Đạn không nổ! Tôi ra lệnh nạp đạn bắn lần thứ hai. Lần này không bắn điện nữa mà chuyển sang bắn cơ. Đạn vẫn không nổ! Thật kỳ lạ. Khi pháo thủ cho biết trong xe chỉ còn một viên đạn pháo cuối cùng, tôi quyết định không bắn nữa, mà cho xe lao lên húc thẳng vào cổng dinh”.

- Tại sao lúc đó anh lại cho đại bác bắn thẳng vào dinh?

- Tôi bắn để uy hiếp đối phương. Lúc đó nhìn qua nhìn lại chỉ mới có xe của tôi đối diện với dinh thôi. Tôi nghĩ đây là ổ kháng cự cuối cùng và họ sẽ kháng cự dữ dội. Anh thấy ngay ở cầu Sài Gòn, cầu Thị Nghè chúng tôi đã bị bắn như thế nào rồi…

- Anh có biết lúc đó trong dinh có ông Dương Văn Minh và các thành viên nội các Sài Gòn?

- Không. Lúc đó chúng tôi không hề biết. Chúng tôi không nghĩ họ đang ở đó, vì quân giải phóng đang tấn công thì nội các ở đó làm gì? Nếu chẳng may đạn pháo nổ trong dinh làm bị thương thành viên nội các nào đó thì chúng tôi cũng không có lỗi gì. Bởi vì chúng tôi là những người lính...

 

Xe 843 xả hết tốc lực húc vào cổng phụ bên trái. Nhưng xe lại húc thẳng vào trụ cổng khá vững chắc nên cổng không đổ. Bùi Quang Thận cho xe lùi lại tiếp tục húc, nhưng lại va vào trụ cổng...

Ngay lúc đó, xe 390 xuất hiện từ phía đường Công Lý, quẹo phải lao thẳng vào cổng chính và ủi văng hai cánh cửa sắt. Xe 390 tiếp tục tiến thẳng vào dinh. Súng đại liên trên xe bắn liên tục. Cùng lúc đó, Bùi Quang Thận giật phăng cần ăngten có gắn cờ giải phóng, nhảy khỏi xe 843, chạy bộ vào dinh.

Trước khi đi, Bùi Quang Thận nói: “Nếu không thấy mình trở ra thì các cậu hãy bắn nốt viên đạn pháo còn lại. Và hãy báo cáo chỉ huy là đại đội trưởng đã vào dinh”. Anh cầm lá cờ xanh đỏ sao vàng nhuốm màu lửa đạn và bụi đường lao vào dinh mà không hề biết chuyện gì đang chờ đợi mình.

Lúc này, trên đường Thống Nhất, một cảnh tượng chưa từng có: xe tăng, xe bọc thép, xe Molotova chở bộ binh ầm ầm nối đuôi nhau hướng về dinh Độc Lập. Súng nổ vang trời. Tiếng súng chỉ thiên mừng chiến thắng của quân giải phóng xen lẫn với những tiếng súng kháng cự cuối cùng của những tay súng biệt kích dù 81 từ phía trụ sở Bộ Ngoại giao (nay là Sở Ngoại vụ TP.HCM).

Chiến sĩ tiểu đoàn 7 bộ binh Tô Văn Thành đang ngồi trên thành xe tăng bị bắn rớt xuống đường. Đó là người lính cuối cùng hi sinh, ngay trước dinh Độc Lập....