Năm Thiệu Phong đời Trần Dụ Tông có người làng Ma La (1) là Đặng Sĩ Doanh làm chức An phủ sứ phụng mệnh sang Bắc quốc, Vợ là Vũ thị ở nhà. Trong làng có đền thờ thần Ma La. Đêm đêm thần biến thành Sĩ Doanh, thân thể hình dạng, dáng điệu đi đứng đều hệt như Sĩ Doanh, nhập vào phòng Vũ thị để tư thông, lúc gà gáy lại bỏ đi. Đêm hôm sau Vũ thị hỏi:
“Phu quân phụng mệnh sang sứ Bắc, sao đêm đêm thì về mà ngày lại không thấy?”
Thần nói dối rằng:
“Vua đã sai người khác đi thay, để ta hầu bên tả hữu, thường giữ ta đánh cờ không cho ra ngoài. Song ta nhớ tình vợ chồng nên lẻn về với nàng để cùng ân ái. Sáng sớm lại phải nhập triều, không dám ở lâu”.
Nghe gà gáy thần lại đi. Vũ thị có ý ngờ vực.
Tròn một năm Sĩ Doanh đi sứ về, Vũ thị có thai đã đầy chín tháng. Sĩ Doanh tâu lên vua. Vũ thị bị hạ ngục. Đêm vua nằm mộng thấy một vị thần tới trước mặt tâu rằng:
“Tôi là thần Ma La lấy vợ đã có mang, bị Sĩ Doanh tranh mất con”.
Vua tỉnh mộng, hôm sau ra lệnh cho ngục quan đem Vũ thị tới, phán rằng:
“Vợ trả cho Sĩ Doanh, con trả cho thần Ma La”.
Ba hôm sau, Vũ thị sinh ra một bọc đen, nở được một con trai, da đen như mực (2). Năm mười hai tuổi đặt tên là Hà Ô Lôi. Hà tuy đen như sơn, nhưng da thịt bóng mỡ như cao. Năm mười lăm tuổi, vua triệu vào hầu, được rất mực yêu dấu, đãi như tân khách (3). Một hôm Ô Lôi đi chơi ở Hồ Tây, gặp Lã Động Tân, Lã hỏi rằng:
“Chú bé con kia có muốn gì chăng?”
Đáp:
Đương lúc thiên hạ thái bình quốc gia vô sự, coi phú quý như phù vân, chỉ ham muốn thanh sắc làm vui tai đẹp mắt mà thôi”.
Động Tân cười nói:
“Thanh và sắc của người mất một, được một, song tên tuổi có thể lưu lại cho đời”.
Rồi bảo Ô Lôi há miệng, nhổ nước bọt, bảo nuốt, sau đó bay lên trời mà đi.
Từ đó, Ô Lôi tuy không biết chữ nhưng thông minh nói giỏi hơn người (4) những câu từ chương thi phú, khúc điệu ca ngâm, giao xướng phụng vịnh, trào phong lộng nguyệt đều khiến mọi người kinh ngạc. Đàn bà con gái ai cũng muốn biết mặt. Vua thường nói với triều thần rằng: “Sau này thấy Ô Lôi gian phạm tới nhà ai, bắt tới trước điện sẽ được đền nghìn quan, nếu giết chết phải bồi thường nghìn quan” (5).
Hồi ấy ở làng Nhân Mục có vị quận chúa thuộc dòng họ vua, tên là A Kim tuổi vừa 23, chồng chết sớm ở góa, nhan sắc có một không hai. Vua rất yêu, gạ gẫm không được thường lấy làm giận, một lần bảo Ô Lôi rằng:
“Ngươi có kế gì cho ta được nàng chăng?”
Ô Lôi tâu:
“Thần xin hạn một năm, nếu không thấy về là sự không thành, thần đã chết”.
Bèn bái từ mà đi, về nhà cởi bỏ hết quần áo dầm dưới bùn, dầu dãi nắng mưa cho xấu bẩn, rồi đóng khố vải giả làm người chăn ngựa gánh một đôi sọt tre đến nhà quận chúa, lấy một gói trầu cau đút lót cho tên giữ cổng để xin vào vườn cắt cỏ. Tên giữ cổng cho vào.
Hồi đó vào khoảng tháng năm, tháng sáu, hoa thái lê đang mùa nở. Ô Lôi đem cắt hết cho vào trong gánh. Thị tỳ của quận chúa thấy hoa trong vườn hết sạch, hô trói Ô Lôi để đợi gia chủ đến chuộc. Giữ quá ba ngày không thấy có người đến nhận, thị tỳ bèn hỏi:
“Mày là gia nô nhà ai, sao không thấy người đến chuộc và đền hoa trong vườn?”
Ô Lôi đáp:
"Tôi là kẻ phiêu bạt, không có gia chủ, không có cha mẹ, thường gánh đồ theo bọn con hát kiếm ăn, hôm qua thấy một vị quan quất ngựa đi ở phía nam kinh thành, ngựa đói, không có cỏ, chủ ngựa cho tôi năm đồng trinh sai đi cắt một gánh cỏ. Tôi mừng được tiền vội đi cắt cỏ, không biết hoa thái lê là vật gì, nay không có gì đền xin đem thân làm gia nô để bồi thường vậy”.
Thị tỳ bèn lưu Ô Lôi ở cổng ngoài.
Qua hơn một tháng, thị tỳ của quận chúa thấy Ô Lôi đói khát bèn cho ăn uống. Đêm đêm Ô Lôi thường ca hát cho người giữ cổng nghe, bọn thị tỳ và nội thị cũng đều lắng nghe.
Một hôm trời tối đã lâu mà đèn chưa thấy thắp, quận chúa ngồi mò một chỗ, tả hữu không kẻ hầu hạ. Quận chúa gọi thị tỳ mà mắng về tội hầu hạ không đầy đủ, lại cầm roi toan đánh. Bọn thị tỳ cúi đầu tạ tội rằng: “Chúng con nghe tên cắt cỏ hát trong long ham say, không ngờ đến nỗi này, quận chúa đánh đòn cũng xin cam chịu”. Quận chúa thôi mà không hỏi tội nữa.
Lúc đó đang giữa đêm hè, quận chúa cùng thị tỳ ngồi ở giữa sân, ngóng gió đùa trăng để tiêu khiển. Bỗng cách tường nghe thấy tiếng hát của Ô Lôi thoảng như điệu ca chàng ngư phủ, khác hẳn âm thanh chốn dương gian (6), tâm thần mê mẩn, tình riêng xúc động, bèn với Ô Lôi vào nhà trong cho hầu ở tả hữu, thành đứa gia nô thân cận.
Quận chúa thường bảo Ô Lôi ca vịnh ngậm xướng để tiêu mối sầu u uất. Ô Lôi nhân đó hết lòng hầu hạ, quận chúa càng yêu mến tin cậy, ngày cho ở dưới trướng, đêm cho khêu đèn ngồi hầu (7). Khi thì sai ca hát, giọng ca bay khắp trong ngoài, quận chúa quá cảm động mà mang bệnh u uất. Qua ba, bốn tháng, bệnh càng trầm trọng. Thị tỳ hầu hạ lâu cũng mệt nhọc mà bị ốm mệt, ốm mệt lại thường ngủ say, quận chúa gọi cũng không dậy.
Duy còn một mình Ô Lôi ở lại hầu hạ, quận chúa không nén nổi dục tình, mật bảo Ô Lôi rằng:
“Ngươi ở cạnh ta, ta vì giọng hát của ngươi mà mang bệnh…”
Bèn cùng Ô Lôi tư thông, bệnh tình cũng có bớt hơn. Tình yêu ngày càng mặn mà, quận chúa chẳng kể gì đến sự đẹp xấu, không còn tiếc gì nữa, muốn đem hết ruộng đất cho Ô Lôi làm trang trại. Ô Lôi nói:
“Tôi vốn không có nhà cửa, nay được gặp quận chúa là bậc thiên tiên, đó thực là điều phúc lớn của tôi. Tôi không cần điền trạch, châu báu chỉ muốn được đội chiếc mũ chầu của quận chúa thì chết cũng được nhắm mắt.” (Chiếc mũ đó là vật tiên đế ban cho, chỉ dùng trong lúc tiến triều. Quận chúa vì quá yêu Ô Lôi không còn tiếc gì hết).
Ô Lôi được mũ bèn cất lẻn mang vào triều. Vua trông thấy cả mừng, tức tốc sai vời quận chúa vào chầu, bảo Ô Lôi đội chiếc mũ kia đứng hầu bên cạnh. Vua hỏi quận chúa: “Có biết Ô Lôi không?” Quận chúa lúc ấy rất xấu hổ.
Đời bấy giờ có bài thơ quốc ngữ rằng:
Chỉn đà náu đến xin làm tôi,
Đành hay thiên tiên phúc để Lôi.
Từ đó danh tiếng Ô Lôi vang lừng thiên hạ, gái đẹp nhà vương hầu thường trêu đùa Ô Lôi. Có câu thơ quốc ngữ rằng:
Mang mang mặt mắt cháy ma lem,
Kẻ chợ khát, người qua mới thèm.
Nhẫn có hoàng kim thanh sắc ấy,
Mang mang mặt mũi thế soi xem.
Tuy người đời làm thơ khinh bỉ Ô Lôi, nhưng vẫn bị tiếng hát cám dỗ mà không thể tránh Ô Lôi được. Ô Lôi thường tư thông với con gái các nhà vương hầu mà không ai dám đánh, sợ vua bắt bồi thường.
Sau Ô Lôi tư thông cả với con gái trưởng của Minh Uy Vương. Vương bắt được song chưa đem giết vội. Sáng hôm sau, Vương vào chầu vua, tâu rằng:
“Đêm qua Ô Lôi lẻn vào nhà thần, tối như bưng không rõ trắng đen nên thần đã giết mất rồi, nay xin bệ hạ cho biết phải đền mấy nghìn quan để thần tiến nạp.”
Vua không biết là Ô Lôi chưa bị giết, phán rằng:
“Trót lỡ mà giết thì ta chẳng chấp nệ làm gì”.
Hồi ấy hoàng hậu Vi Từ là chị ruột Minh Uy Vương(8). Vương về lấy trượng đánh Ô Lôi, Lôi không chết, Vương bèn lấy chày giã chết.
Khi sắp chết, Ô Lôi có ngâm câu thơ quốc ngữ rằng:
Sinh tử do trời có quản bao,
Nam nhi miễn đã được anh hào,
Chết vì thanh sắc cam là chết,
Chết việc ốm đau cơm gạo nào.
Lại nói: “Xưa Động Tân bảo ta rằng: “Thanh sắc của người được mất bù nhau (9), lời ấy nghiệm thật”. Nói rồi bèn chết.
-----------------------------
Chú thích:
(1) Bản A.2107: “… làng Ma Phong”.
(2) Bản A.750 chép: “Vì thần không có họ nên đặt cho họ Hà, lấy tên là Ô Lôi, mặt mũi đen nhẻm, nhưng da thịt mỡ màng”.
(3) Các bản A.750, A.1200. A.1300, A.2914 chép: “… coi như khách thân”.
(4) Bản A.750, A.2107 chép: “… thường làm mất lòng nhiều người”. Bản A.1200 chép: “Thông minh lém lỉnh vượt hẳn mọi người”.
(5)Bản A.750 chép: “… Nếu giết chết phải bồi thường một vạn quan. Vua thường cùng Ô Lôi du chơi…”
Bản A.1300 chép: vua ra lệnh cho triều thần rằng “nếu thấy Ô Lôi gian phạm đến phụ nữ, bắt nộp tới trước vua sẽ được thưởng 1000 quan tiền, nếu từ ý giết phải đền 1 vạn quan”.
(6)Các bản A.1300. A.2914, A.2107 chép: “Cách tường nghe thấy tiếng ca phảng phất như điệu nhạc Quân thiên, khác âm thanh nơi hạ giới…”
(7) Đoạn này, bản A.2107 có chép thêm như sau: “Ô Lôi cũng hết lòng nỗ lực, hầu hạ dưới gối, suốt ngày quấn quýt không lúc nào rời…, hoặc khi quận chúa sai ca hát, tiếng ca bay khắp trong ngoài, bài hát cợt gió như sau:
Nhờ gió xưa chừ từ trái đất ra,
Dỡn qua lãng uyển, lộng ánh thiều quang.
Ai đưa gió tới lân la chốn này,
Vào song bắc chừ vui tình nghĩa.
Sang Tương đài chừ thú Tương Vương.
Đưa người gốc liễu chừ đón khách hải đường
Gỡ hộ cô nàng chứ mối sầu nặng vương.
Bài ca dỡn trăng như sau:
Tựa ngọc bàn chất là âm tinh,
Vui trăng này trăng thật đa đoan
Đông tây lúc ở thường vô định
Đầy vơi tuỳ lúc chẳng bằng nhau
Mượn cửa sổ bóng câu chợt lướt
Mưa chị Hằng lên mãi trời cao
Cùng trời đất sống lâu ngàn kiếp
Bận bịu nhiều chẳng phút nào nguôi.
Giọng ca dìu dặt, du dương khiến cho chim cá cũng phải động lòng. Quận chúa nhân cảm động, mang bệnh sầu tư, ba bốn tháng bệnh càng thêm nặng. Mối chân tình của quận chúa không ngăn cấm được, quận chúa bèn nói với Ô Lôi rằng: “Giọng hát của ngươi làm tâm thần ta mê mệt, khiến ta yêu mến đến nỗi thế này…”
(8) Bản A.750 chép: “Uy Minh Vương…”
(9) Bản A.750 chép: “… thanh sắc của người được nọ mất kia…”