Thiền sư Không Lộ ở chùa Nghiêm Quang, huyện Hải Thanh là người họ Dương ở Hải Thanh vậy, mấy đời làm nghề câu cá, bỏ nghề ấy mà đi tu, thường hay đọc kinh Già-la-ni-môn. Trong các năm Chương Thánh, Gia Khánh đời Lý Nhân Tông (1) thường cùng Giác Hải là đạo hữu ở ẩn đất Hà Trạch (2) quên cả thân mình, ngoài không đi đến đâu, trong thì tu thiền định (3). Thấy tâm thần tai mắt nhẹ nhàng sáng sủa, có thể bay lên không, đi trên băng giá, bắt được hổ phải nể phục, bắt được rồng phải giáng, vô cùng quái đản, người ta không sao lường biết được (4). Sau tìm về một ngôi chùa ở quận nhà mà ở. Một hôm, người hầu bẩm rằng: “Mỗ tự khi tới đây chưa hề được thầy chỉ giáo về những điều tâm yếu, dám xin trình thơ rằng:
Đoàn luyện thân tâm hảo đắc tinh,
Xâm xâm trực chuyển đối nghiêm đình. (5)
Hữu nhân lai học không không pháp
Thân tọa bình biên ảnh tập hình (6).
Sư hiểu rõ mà bảo rằng: “Nếu con đi đường bộ mà tới, ta tiếp con, nếu con đi đường thuỷ mà tới, ta trao cho con. Chẳng có chỗ nào mà ta không truyền cho con cái đạo tâm yếu”. Nói xong, ha hả cười lớn. Thường hay đọc câu kệ rằng:
Tuyển thủ giao long địa khả cư,
Dã tình chung nhật lạc vô dư.
Hữu thời trực thượng cô phong lĩnh,
Trường tiếu nhất thanh hàn thái hư (7). Ngày 3 tháng sáu năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ mười thì chết (8); môn nhân thu xác táng ở cửa chùa. Vua hạ chiếu cho sửa rộng chùa này, quyên hai mươi hộ phụng hương hỏa.
Thiền sư Giác Hải họ Nguyễn, người Hải Thanh, ở tại chùa Diên Phúc quận nhà. Thưở nhỏ thích câu cá, thường lấy thuyền con làm nhà, lênh đênh trên mặt nước. Năm hai mươi lăm tuổi bỏ nghề ấy, cắt tóc đi tu, lúc đầu cùng thiền sư Không Lộ thờ một thầy ở chùa Hà Trạch (9).
Thời Lý Nhân Tông, sư thường cùng Thông Huyền chân nhân được triệu vào ngồi hầu trong chùa Lương Thạch ở Liên Mộng (10). Bỗng có đôi tắc kè gọi nhau, nhức tai điếc óc. Vua truyền Thông Huyền ngăn nó lại, Huyền lặng nhẩm thần chú, một con rơi xuống trước. Vua cười bảo: “Hãy còn một con xin để nhường nhà sư”. Sư đọc thần chú, trong nháy mắt con còn lại cũng rơi xuống nốt. Vua kinh lạ, làm thơ rằng:
Giác Hải tâm như hải,
Thông Huyền đạo diệc huyền.
Thần thông năng biến hóa,
Nhất Phật, nhất thần tiên (11).
Từ đó danh tiếng sư vang động thiên hạ, các vị tăng cùng kẻ tục đều dốc lòng tin theo. Vua thường lấy lễ thầy trò mà đã sư, mỗi khi hạ giá tới hành cung ở Hải Thanh tất trước tới thăm chùa.
Một hôm vua bảo sư: “Cái đạo ứng chân thân túc (12) có thể cho nghe được không?” Sư bèn đọc kinh tám lần, bay vút lên không, cách xa đất năm trượng, bỗng lại rơi xuống. Vua cùng quần thần đều vỗ tay xưng tán, ban cho chiếc kiệu để ra vào nơi cung cấm. Tới triều vua Thần Tông, mấy lần vua triệu và Kinh thành, sư đều lấy cớ già yếu không đi. Có vị sư hỏi rằng: “Phật và chúng sinh, ai là chủ ai là khách?” Sư bèn đặt câu kệ rằng:
Bất giác nhữ đầu bạch,
Báo nhĩ tác lão khách.
Nhược vấn Phật cảnh giới,
Long môn tao điểm ngạch (13).
Lúc sắp tịch, bèn làm bài kệ cáo chúng như sau:
Xuân lai hoa điệp thiện tri thì,
Hoa điệp ưng tu tiện ứng kỳ.
Hoa điệp bản lai giai thị ảo,
Mạc tương hoa điệp hướng tâm trì (14).
Đêm ấy có ngôi sao lớn rơi ở góc tây nam phương trượng. Sáng hôm sau, sư ngồi ngay thẳng mà tịch. Vua xuống chiếu quyên 30 hộ phụng thờ hương hỏa, phong hai con làm quan để thưởng công.
(Đời Trần Thái Tông, đất Hải Thanh là Thiên Thanh, tức là phủ Thiên Trường(15)).
---------------------
Chú thích:
(1) Bản A.2107 chép: “đời Lý Thánh Tông”.
(2) Bản A.2107 chép: “… đến ở ẩn tại chùa Hà Trạch, mặc cỏ ăn cây, quên cả thân mình, ngoài thì không đi đâu, trong thì tu thiền định”.
Bản A.1752 chép: “… bên đất Cựu Thuỷ nương thân, đi ăn xin ở đó, quên cả thân mình…”
(3) Thiền định: tiếng nhà Phật, ý nói tập trung tư tưởng ở một chỗ mà suy tưởng tới lẽ huyền diệu của đạo Phật.
(4) Về đoạn này, bản A.2107 chép thêm như sau: “Lại được ban đại giám chân ấm, khi thì tự xưng là Vũ Khách, lúc thì nhận hiệu là Mao Tiên (Vũ Khách, Mao Tiên đều là tên chỉ các bậc tiên) được lên tới cõi Đâu Xuất…”
(5)Câu thứ hai này, các bản A.2914, A.2107, A.1300, A.1200, A.1752 đều chép là: “xâm xâm trực cán đối hư đình”.
Dịch ý như sau:
Rèn luyện thâm tâm cho được tinh vi,
Hăm hở xoay lại đối diện với nghiêm đình.
Có người tới học không không pháp,
Mình ngồi bên chiếc bình phong, ảnh với hình hợp làm một.
(6) Bản A.1752, trong bài thơ, 3 câu sau chép:
“Dã tình chung nhật mễ vô dư,
Hữu thời trực thượng cô điên tại.
Khiếu nhất thanh hề hàn thái hư”.
(7)Bản A.1200 chép bài thơ này như sau:
Tuyển thủ giao long địa khả cư,
Dã tình chung tất lạc vô dư.
Hữu thời trực hướng cô phong lĩnh,
Trường khiếu cao thanh hàn thái hư.
Bài thơ này dịch ý như sau:
Địa thế long xà chọn được nơi,
Đồng quê cảnh thú suốt ngày vui.
Có khi dời bước non cao chót.
Một tiếng kêu to lạnh cả trời.
(8) Bản A.2107 chép: “Ngày mồng 3 tháng sáu năm At Hợi, niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ 10 (tức năm 1120) sư tịch”.
(9) Các bản A.759, A.1300 chép thêm: “… sau tìm về Hải Thanh”.
Bản A.1200 chép: “… cùng với Không Lộ thờ một thầy, nương náu ở chùa Hà Trạch, sau tìm về chùa Không Lộ”.
Bản A.2107 chép: “… sau về ở chùa Diên Phúc thuộc làng cũ tiêu dao làm vui, đồ vật trong chùa tuỳ thời sử dụng…”
(10) Bản A.2107 chép: “… mời vào ngồi ở chùa Đá trong viện Liên Mộng”.
Bản A.1752 chép: “… mời vào ngồi ở chùa Phùng Ứng, Lương Mộng”.
Bản A.1200: “… mời vào ngồi ở chùa Liên Hoa, Lương Thạch”.
(11) Dịch ý như sau:
Giác Hải lòng như hải (bể)
Thông Huyền đạo cũng huyền,
Thần thông thêm biến hóa.
Một phật, một thần tiên.
(12) Bản A.1300: “Ứng chân định thần”. Bản A.2107: “Ứng chân thần tiên”.
(13) Dịch phỏng ý như sau:
Bất giác đầu ta đã bạc, bảo ta là lão khách, nếu như hỏi tới những điều thuộc cảnh giới đạo Phật, thì ta cũng chỉ như con cá nhỏ không vượt khỏi cửa rồng đến nỗi trán bị chấm dấu.
(14) Dịch phỏng ý như sau:
Xuân tới, chính là thời tiết rất quen thuộc đối với bướm hoa. Hoa bướm cũng phải lựa theo thời tiết. Hoa bướm xưa nay vốn mộng ảo. Cớ sao phải giữ mãi chuyện hoa bướm trong lòng.
(15) Thiên Trường: tên phủ thuộc trấn Sơn Nam Hạ cũ, nay thuộc Hà Nam Ninh gồm các huyện Xuân Thuỷ, Trực Ninh, Nam Trực.