Thần vốn là thổ thần ở ngôi miếu cổ đất Đằng Châu. Lý Thái Tổ khi còn làm quan quản lĩnh thân binh, có thực ấp ở Đằng Châu.
Một lần vua dạo chơi, tới làng này, thuyền đang đi ở giữa sông, bỗng gặp mưa to gió lớn, phải dừng lại. Vua hỏi đền ở bờ sông là đền gì, có linh ứng không? Có kẻ đáp rằng: “Đó là đền thần thổ địa đất Đằng Châu, người trong châu cầu mưa đảo tạnh đều rất là linh ứng”. Vua nói lớn rằng: “Nếu như có trận mưa lớn mà nnửa sông bên này vẫn tạnh thì mới thực là anh linh”. Phút chốc, quả nhiên một nửa sông mưa, một nửa sông tạnh. Vua kinh dị, bèn sai tu sửa đền vũ, hương lửa cúng thờ. Người trong thôn có bài thơ rằng:
Mỹ hỹ Đại vương uy vọng trọng,
Đằng Châu thổ địa hiển thần linh,
Khước giao bạo vũ vô xâm phạm,
Ná nhất bàng đà giá nhất tinh (1). Vua nghe thấy, có bụng tự phụ. Cho tới khi Lê Ngọa Triều băng hà, vua muốn mưu đại sự bèn tới đền mặt cáo, chờ điềm linh ứng.
Đêm ấy mộng thấy có dị nhân đến báo rằng “Có lòng muốn thì sẽ thành công, các phương đều thuận phục, vạn quốc hưởng thanh bình, ba năm dân an cư lạc nghiệp, bảy miếu chúa được an ninh”. Vua tỉnh mộng, chưa hiểu ý tứ thế nào, có người đoán mộng cho là triệu tốt. Vua bèn thăng Đằng Châu là Thái Bình phủ, phong Thần làm Khai thiên thành hoàng Đại vương.
Năm Trùng hưng thứ nhất đời Trần, gia phong cho mỹ tự là Khai thiên trấn quốc. Đền thần ở phía trong đê, thường bị nước lũ tràn ngập. Người ở làng ven sông thường trông thấy có xe, dù, tán đi hầu một người có vẻ như đi hộ đê, cho nên đê tuy thấp mà nước không thể gây tai họa được. Trải qua năm tháng, nước sông dâng cao áp tới đền thờ.
Năm Bính Tuất niên hiệu Thống Nguyên, dân làng định lập đền ở trên mặt đê. Khi mọi người tới nơi đã thấy chính tẩm dựng sắp xong, quan huyện và dân làng đều ngủ ở trên gò cỏ, nghe thấy có người tới mang theo những đồ đề đào đất, lại nghe có tiếng gọi nhau như kiểu trong thôn đi làm. Sáng ra, thấy những cột và đá tảng đã chuyển dịch sang phía tả, cách đê ba thước, thật là muôn phần linh ứng. Về sau đến ngày rước thần, tri phủ Khoái Châu là Hoàng Nam Kim có đề lên miếu bài thơ rằng:
Phan thổ châu khư lịch hách hách,
Khai thiên huyền tạo ngưỡng nguy nguy.
Đường thành dục thức chân linh tích,
Nhất dạ thần công diệu chuyển di (2).
Miếu ở xã Đằng Châu, huyện Kim Đông, nay gọi là miếu Vua Mây.
--------------------
Chú thích:
(1) Tạm dịch:
Đẹp thay! Uy danh của Đại Vương rất lớn,
Tỏ rõ linh thiêng ở đất Đằng Châu.
Không cho mưa lớn tới xâm phạm,
Nửa sông bên kia mưa mà nửa sông bên này vẫn tạnh.
(2) Tạm dịch:
Mấy tấc gò đống ven sông mà uy linh hiển hách, khai thiên phép huyền diệu cao vòi vọi. Muốn biết linh tích ở đê cữ, hãy xem cái tài chuyển dịch kỳ diệu của thần trong một đêm.