Người Nam Chiếu là con cháu vua Vũ Đế Triệu Đà. Thời Hán Vũ Đế, thừa tướng nước Nam Việt là Lữ Gia không phục, giết sứ Hán là bọn An Quốc, Thiếu Quý(1). Hán Vũ Đế sai tướng là bọn Lộ Bác Đức, Dương Phác đem quân chinh phạt, bắt Vệ Dương Vương Kiến Đức và Lữ Gia, thôn tính cả nước, phân đất cho các quan cai trị.

Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn là những xứ vắng vẻ không có người. Khi bộ hạ đông đúc, họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu, cho nên họ mang danh hiệu ấy.

Đến đời Ngô, Tôn Quyền(2) sai Đái Lương, Lữ Đại làm thú mục để đánh dẹp. Quân Nam Chiếu ở cả một vùng từ núi Thiên Cầm tới Hà Hoa, Cao Vọng, Hoành Sơn, Ô Tung (3), Hải Ngạn. Lại Bộ, Trường Sa, Quế Hải, Vọng Cái, Lỗi Lôi núi cao bể rộng, sóng gió hiểm trở, không có một vết chân người. Quân Nam Chiếu ở đấy thường lấy việc cướp bóc để sinh sống, đánh giết thú mục, không thể ngăn cản nổi. Đồ đảng của chúng khá nhiều, hay đem hàng hóa châu ngọc đút lót cho nước Tây Bà Dạ (4) cầu làm thân thuộc, cùng giúp đỡ nhau. Cuối đời Tấn, thiên hạ rối loạn, có người tù trưởng miền ấy là Triệu Ông Lý cũng là con cháu của Triệu Vũ Đế, anh em đông đúc, thảy đều dũng lược hơn người, ai nấy đều phục, cùng với quân Nam Chiếu hợp lại, được hơn hai vạn người, lại đem châu ngọc tiến dâng nước Tây Bà Dạ, xin chỗ đất không ngay cạnh đó để ở.

Khi ấy, nước Tây Bà Dạ chia đều bãi bể và đồng nội ra thành hai lộ. Một lộ trên từ Quý Châu, dưới tới Diễn Châu gọi là lộ Gia Viễn (5) giết trâu ngựa ăn thề rồi giao cho nước Nam Chiếu và Triệt Ông Lý thống lĩnh. Thế là Ông Lý xây thành ở làng Cao Xá, đất Diễn Châu, đông tới Giáp Hải, tây tới nứơc Bà Da, nam tới Hoành Sơn, tự xưng làm chúa.

Nhà Đông Tấn sai tướng quân là Tào Nhĩ đem quân sang đánh, Ông Lý phục quân voi ở chỗ hiểm trở nơi đầu nguồn sông mà đánh, rồi lại tới nấp ở Mê Sơn và Mạt Sơn ngoài bể, địch tụ thì mình tán, địch tán thì mình tụ, sáng ra tối vào, cầm cự trong bốn, năm năm trời. Quân Tấn không chịu nổi khí núi, tử vong quá nửa, bèn rút quân về. Quân Nam Chiếu thường tới cướp các xứ Nam Thành, Đông Thành(6), Trường An, thú lệnh không thể dẹp nổi.

Tới khi nhà Đường thịnh lên, vua Ý Tông sai Cao Biền đem quân sang dẹp, cũng không đánh nổi phải bỏ về.

Đời Ngũ Đại, vua Tấn là Thạch Kính Đường sai quan tư mã họ Lý(7) đem 20 vạn quân đánh vào Đồ Sơn, quân Nam Chiếu bèn rút về ở nhờ tại biên giới Ai Lao, hiệu là Đầu Hoành mô quốc Bồn Man, thường lấy sự cướp bóc làm nghề, lúc đánh lúc nghỉ, chưa hề bao giờ yên chiến sự. Đất đó nay là phủ Trấn Ninh, muôn đời sáp nhập trong bản đồ nước Đại Việt (8).



---------------------

Chú thích:


Về truyện này, bản A.750 mở đầu như sau: “Nước Nam Chiếu là con cháu họ Triệu. Họ Triệu đã mất, con cháu tản mát tứ phương, sau tụ tập ở những chỗ vắng vẻ rộng rãi vùng Thần Phù, Hoành Sơn. Bộ hạ đông đúc bèn đóng tàu thuyền ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bẻ, giết các quan lệnh nhà Hán. Dân sợ hãi gọi là Nam Chiếu cho nên có tên ấy. Sai đến đời Ngô, vua sai Đái Lương, Lữ Đại làm thú mục để đánh dẹp. Quân Nam Chiếu ở cả một vùng Thiên Cầm, Hà Hoa, Cao Vọng, Hoành Sơn, Ô Tôn, Hải Ngạn, Giáp Bộ, Thường Trì, Đỗ Chữ, Vọng Cái, Lỗi Thạch… Về sau có hơi thịnh vượng lên bèn lấy hàng hóa châu ngọc đút lót cho nước Tây Bà Dạ cầu làm thân thuộc…”

(1) Bản A.1300 chép: “bọn An quốc tử Lý Thông…”. Bản A.1200 chép: “Bọn An Quốc và Lý Thiếu Quân”.

(2) Bản A.1300 chép: “Đến thời Tam quốc, vua nước Ngô là Tôn Quyền”.

(3) Bản A.1200 chép: “Nam Chiếu ở một vùng Thiên Ư Sơn, Hà Hoa, Cao Vọng, Hoành Sơn, Ô Tôn và Trường Sa, Vọng Các, Lỗi Lôi”.

(4) Bản A.1300 chép: “Dân Nam Chiếu còn ít, bèn lấy hàng hóa châu ngọc đổi cho nước Tây Bà Dạ xin làm thân thuộc để cứu giúp nhau”.

(5) Bản A.1300 chép: “… gọi là lộ Già La, trên từ Cầm Châu dưới tới Hoan Châu là lộ Lâm An chia cho Nam Chiếu Lý Ông thống lĩnh, vì thế bèn xây thành ở tổng Cao Xá, Diễn Châu”.

(6) Bản A.1300 chép: “… An Thành, Đô Thành”, bản A.1200 chép: “Nam Việt, Trường An, Đông Thành”.

(7) Bản A.1300 chép: “sai quan tư mã là Lý Tiến…”

(8) Bản A.1300 chép: “Quân Nam Chiếu bèn rút lui về biên giới nước Ai Lao, lấy hiệu Đầu Mô quốc, nay là Bồn Thác”. Bản A.1200 chép: “… lấy hiệu là Đầu Hoành hoán Bồn Man quốc… nay là phủ Trấn Ninh”.

Nam Chiếu là tên một trong sáu chiếu ở Vân Nam. Chiếu là tên vua của các bộ lạc người Thái. Về sau, Nam Chiếu mạnh lên, thôn tính cả sáu chiếu kia. Nam Chiếu về sau thành nước Đại Lý trong đời Ngũ Đại và đời Tống. Chưa bao giờ nước Nam Chiếu hay nước Đại Lý vượt ra ngoài phạm vi Vân Nam, thậm chí lan đến Nghệ An như truyện ở đây chép. Truyện ở đây rõ ràng là một truyền thuyết, muốn đề cao tinh thần tự chủ của con cháu Triệu Đà, mà có lúc các nhà nho đã coi như người nước ta. Riêng việc giải thích rằng do họ “Triệu” mà có cái tên “Chiếu” và Nam Chiếu là con cháu họ Triệu ở phương Nam, cũng tỏ rõ thái độ đó.


Các bài viết khác